Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động: Nhu cầu bức xúc của các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
25/02/2005 2:50 CH 1298 lượt xem
Cỡ chữ +-

Hiện nay, 49 Hội khoa học và kỹ thuật ngành ở Trung ương thuộc hệ thống Liên hiệp hội đã tập hợp được một bộ phận khá đông đảo trí thức khoa học và công nghệ thuộc hầu hết các lĩnh vực học thuật và chuyên ngành khác nhau, đó là những chuyên gia quản lý, nghiên cứu, giảng dạy, sản xuất trong các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sản xuất kinh doanh, ngoài ra các Hội còn thu hút được nhiều nhà khoa học có trình độ và kinh nghiệm, một số không ít là các chuyên gia có uy tín cao ở nhiều ngành khác nhau đã nghỉ chế độ, cũng như một số người lao động có kỹ năng. Đó là những hội viên của các Hội KH&KT Việt Nam, một nguồn nhân lực có tiềm năng phong phú trong xã hội cần được phát huy và tận dụng trong tiến trình đi vào kinh tế tri thức phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Với cơ cấu tổ chức của một Hội Khoa học và kỹ thuật ngành Trung ương về cơ bản gồm có hệ thống dọc đó là các Hội KH&KT ở các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hiện nay con số này là 306, như vậy trung bình mỗi tỉnh trong cả nước có khoảng 05 Hội khoa học và kỹ thuật cấp tỉnh, con số này quả là quá khiêm tốn, trong khi một số Hội khoa học và kỹ thuật đã phát triển tổ chức đến hầu hết các Tỉnh, thành (Hội Luật gia Việt nam, Hội đông y Việt Nam, Hội Làm vườn Việt Nam...) thì còn rất nhiều Hội chỉ có từ 1 đến không quá 10 tổ chức chân rết ở các địa phương. Việc hình thành các Hội KH&KT cấp Tỉnh do UBND Tỉnh quyết định, song sự hướng dẫn của cấp Trung ương Hội trong quá trình thành lập cũng như hoạt động sau này là rất quan trọng.

Ngoài các Tỉnh, thành Hội thì hình thức hội, phân hội chuyên ngành và chi hội cơ sở là phổ biến, hiện nay có hơn 8000 chi Hội khoa học và Kỹ thuật hoạt động trong phạm vi cả nước, số Hội thành lập được từ 5 chi hội trở xuống chiếm 36,7%, từ 16 chi hội trở xuống chiếm 80%, thông thường ở các cơ sở có từ 03 đến 05 hội viên thì có thể lập một chi hội. Trong các Hội KH&KT thì hoạt động phân theo chuyên ngành cũng là nét đặc thù: ví dụ như Tổng hội y dược học Việt Nam có 37 Hội chuyên ngành thành viên; Hội Địa chất Việt Nam có 10 phân hội chuyên ngành, tuy nhiên số Hội không có phân hội chuyên ngành vẫn còn chiếm 20,8%, số Hội có từ 12 phân hội trở xuống chiếm 83,3%; trung bình mỗi Hội có 6 phân hội.

Vậy các Hội khoa học và kỹ thuật có những hoạt động gì để thu hút Hội viên? Đây là câu hỏi được tập trung thảo luận trong rất nhiều hội thảo và cũng được trả lời với nhiều ý kiến khác nhau. Một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Hội là tập hợp và đoàn kết các cán bộ KH&KT trong ngành mình để thực hiện các nhiệm vụ như: Nghiên cứu khoa học, Đào tạo và phổ biến kiến thức cho hội viên và cho quảng đại quần chúng, đưa nhanh ứng dụng tiến bộ KH&KT vào sản xuất và đời sống và hợp tác Quốc tế trên lĩnh vực chuyên môn của mình...Ngoài ra với đặc thù của mình mỗi Hội còn thực hiện nhiều nhiệm vụ xã hội khác nữa.

Hình thức thông tin cho hội viên và phổ biến kiến thức chủ yếu qua kênh các tờ báo, tạp chí, tờ tin của Hội, hiện nay số báo chí trong hệ thống Liên hiệp hội lên đến 70, còn loại hình các câu lạc bộ khoa học được tổ chức khoảng 40. Việc phổ biến kiến thức và nâng cao trình độ hội viên còn được thực hiện dưới dạng các hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và Quốc tế, tuy nhiên việc Hội tham gia vào các tổ chức Hội Quốc tế cũng gặp những khó khăn nhất định vì Hội thường không dễ dàng gì trong việc đóng niên liễm theo quy định của một tổ chức Hội Quốc tế, hơn nữa các cuộc họp thường niên nhiều khi Hội cũng không thể tham dự được vì không có kinh phí. Đây là thiệt thòi lớn cho các Hội KH&KT cũng như cho đất nước vì nó là một kênh thông tin Quốc tế về khoa học- công nghệ rất quan trọng. Ngoài ra trong quá trình hội nhập các Hội nghề nghiệp đã góp phần đáng kể làm cho thế giới hiểu rõ hơn về đất nước và con người Việt Nam, hình ảnh thật của Việt Nam đến được với các bạn bè Quốc tế thông qua hoạt động hợp tác khoa học và kỹ thuật, từ đó tăng thêm mối thiện cảm và ủng hộ về nhiều mặt của bạn bè Quốc tế và thực chất các Hội KH&KT đã đóng góp quan trọng trong việc thực hiện đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng.

Công tác đào tạo, đào tạo lại cho hội viên và quảng đại quần chúng được các Hội khoa học và kỹ thuật hết sức quan tâm và đã tổ chức được nhiều khoá học ở các lĩnh vực chuyên ngành khác nhau với chất lượng và nội dung thiết thực được xã hội thừa nhận, một số đơn vị làm tốt công tác này như: Hội Kế toán Việt Nam, Hội Tin học, Hội Kinh tế Việt Nam và nhiều đơn vị nghiên cứu triển khai và làm dịch vụ khoa học và công nghệ khác (hiện nay trong toàn bộ hệ thống Liên hiệp hội có khoảng 200 đơn vị)...Hoạt động nghiên cứu khoa học, xoá đói giảm nghèo, phát triển cộng đồng và tư vấn, phản biện và giám định xã hội được thực hiện thường xuyên với sự tham gia của nhiều chuyên gia liên ngành và chuyên sâu đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Đánh giá cao vai trò to lớn của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ thời gian qua và trước nhiệm vụ mới của cách mạng, ngày 30/01/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 22/2002/QĐ-TTg giao nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội cho Liên hiệp hội và các Hội thành viên, đây là một vinh dự lớn lao song cũng là trọng trách nặng nề của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới.

Cán bộ chủ chốt của các Hội khoa học và kỹ thuật đều có trình độ: 100% có trình độ đại học trở lên, hơn 60% uỷ viên Ban chấp hành và Ban Thường vụ có trình độ trên đại học, tuy nhiên tuổi đời của BCH và thường vụ đều tương đối cao, tuổi dưới 40 chỉ có 4% ở BCH và 0,2% ở Thường vụ. Cán bộ chuyên trách tại các Văn phòng Trung ương hội trung bình có 6 người trong đó có 4 người làm việc chuyên trách, tuy nhiên vẫn còn 27,5% số văn phòng không có nhân viên chuyên trách. Về các tổ chức chính trị- xã hội khác trong cơ quan Trung ương Hội, thì hiện tại có 41,5% Hội có tổ chức Đảng, 16,2% có tổ chức Công đoàn và chỉ có 5,4% có tổ chức Đoàn thanh niên. Cơ quan Trung ương Hội tuỳ theo tính chất và nội dung hoạt động có thể có các Ban chuyên môn (có khoảng 22 loại Ban khác nhau) ví dụ: Ban Tổ chức, Ban Hội viên, Ban Thư ký, Ban Thông tin...

Hệ thống tổ chức của Hội khoa học và kỹ thuật là rộng lớn, lĩnh vực hoạt động đa dạng, kinh phí hoạt động khó khăn, đội ngũ cán bộ chủ chốt và chuyên trách trong cơ quan Hội hoạt động bằng uy tín cá nhân, lòng nhiệt tình và sự tự nguyện cộng với kinh nghiệm của bản thân, hầu hết đều chưa được đào tạo về nghiệp vụ và kỹ năng công tác Hội, việc học tập kinh nghiệm Quốc tế cũng không phải lúc nào cũng có điều kiện, một số Hội do khó khăn về kinh phí nên phải đặt trụ sở giao dịch tại nhà riêng và cũng không có cả cán bộ chuyên trách, cơ chế, chính sách chưa tạo điều kiện cho tổ chức Hội hoạt động. Đó là những nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ đến sự đóng góp của các Hội khoa học và kỹ thuật trong thời gian qua.

Trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, tạo cho chúng ta những cơ hội to lớn đồng thời cũng đặt ra những thách thức gay gắt đòi hỏi đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ đang hoạt động trong các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phải có đủ năng lực để phát triển khoa học và công nghệ góp phần phát triển kinh tế- xã hội, rút ngắn khoảng cách phát triển so với khu vực và Quốc tế. Trong thời gian qua Đảng và Chính phủ đã xác định vị trí, vai trò của tổ chức Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt nam, tổ chức chính trị- xã hội của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam. Chính phủ đã giao nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội, trong khi đang xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho các Hội hoạt động, thì hơn lúc nào hết việc nâng cao năng lực, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động đã trở thành nhu cầu bức xúc đối với Liên hiệp hội và các thành viên nhằm thúc đẩy các Hội khoa học và kỹ thuật lớn mạnh có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội. Xin có một vài kiến nghị sau:

1. Mỗi Hội cần đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động để từ đó xác định tổ chức và phương thức hoạt động cần đổi mới, phát triển các Hội khoa học kỹ thuật ở các tỉnh có đủ điều kiện.

2. Cần nghiên cứu về đội ngũ cán bộ Hội để tìm ra những điểm yếu, mạnh, xác định những năng lực cụ thể cần được nâng cao.

3. Cần nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO) quốc tế, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam để phổ biến sâu rộng cho các thành viên

4. Xây dựng mối quan hệ giữa các Hội KH&KT trong hệ thống Liên hiệp hội với nhau, với Liên hiệp hội địa phương và với các Hội KH&KT cấp Tỉnh

5. Liên hiệp hội cần hình thành ngân hàng dữ liệu chuyên gia tư vấn phục vụ cho hệ thống Hội trong công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội.

6. Liên hiệp hội nên thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo nâng cao nghiệp vụ công tác Hội, ngoài ra cũng cần tổ chức các buổi toạ đàm mang tính chuyên đề cho từng nhóm đối tượng.

7. Liên hiệp hội chủ động phối hợp với Ban tổ chức- cán bộ Chính phủ xây dựng luật lập hội.