Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 23/12/2010 22:18 (GMT+7)

Xung đột môi trường tiềm ẩn sự mất ổn định trong cộng đồng xã hội

Khái niệm có thể mới nhưng trong thực tế đã xảy ra những xung đột gay gắt, gây mất ổn định chín trị, làm tổn hại đến tài sản, tiền của, thậm chí thiệt hại về người ở nhiều nơi. Chẳng hạn, vụ xử lý chất thải từ việc sản xuất mỳ chính của Công ty Vê –đan; công ty Sữa, vụ xây bể chứa axit tại Hải Phòng; vụ bãi rác thải ở Sóc Sơn; tranh cãi xung quanh việc đường Hồ Chí Minh đi qua vùng đệm vườn Quốc gia Cúc Phương... trong nhiều làng nghề, khu dân cư, khu công nghiệp cũng đã và đang xuất hiện hoặc ngấm ngầm những bất đồng, mâu thuẫn giữa cộng đồng dân cư với doanh nghiệp, hợp tác xã, giữa các gia đình, cá nhân với nhau xung quanh vấn đề sử dụng, khai thác tài nguyên, môi trường. Gần đây, trong các ngày 25, 26, 27 tháng 2 – 2008, hàng trăm người dân đã đến đập phá cơ sở vật chất, đốt cháy thức ăn của trại nuôi lợn của bà Huỳnh Thị Thu Thủy tại thôn Thái Đông, xã Bình Nam huyện Thăng Bình, Quảng Nam, gây thiệt hại ước tính 500 triệu đồng. Nguyên nhân chính của sự phá hoại mang tính tập thể này là trại chăn nuôi của bà Thủy gây ô nhiễm nặng nề môi trường sống xung quanh. Nhân dân đã làm đơn kiến nghị gửi các cơ quan chức năng nhiều lần nhưng không được giải quyết.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, vấn đề tài nguyên, môi trường đang ngày càng bức xúc hơn trong tương ai. Từ đó xảy ra những xung đột ngày càng gay gắt nếu không xử lý khéo léo, hài hòa giữa các lợi ích các mối quan hệ. Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu những nguyên nhân của xung đột môi trường, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa, ngăn chặn, giải quyết vấn đề đang đặt ra cho xã hội hiện nay. Trước hết, cần có sự hiểu biết sâu sắc về môi trường mà chúng ta đang sống. Các nhà nghiên cứu đã phân môi trường của trái đất thành 3 chức năng chính:

Thứ nhất,môi trường là nơi cung cấp những tài nguyên, thiên nhiên thiết yếu cho cuộc sống như: nước, không khí, thức ăn, tài nguyên rừng núi, khoáng sản để làm ra hàng hóa, vật liệu sinh hoạt tiêu dùng... Có những tài nguyên có thể khôi phục, tái sinh nhưng cũng có những loại không bao giờ tái sinh được. Ngay cả một số tài nguyên có thể tái sinh, khôi phục được thì cũng hạn chế, chậm chạp hơn sức tiêu thụ, sử dụng của con người. Nước sạch là loại tài nguyên như thế.

Thứ hai, môi trường là nơi chứa đựng rác tải do con người tạo ra. Trong quá trình sinh tồn, phát triển, con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường để phục vụ cho mình, đồng thời con người cũng thải ra môi trường những thứ đã ăn uống, sử dụng.

Thứ ba, môi trường còn là nơi cung cấp không gian sống cho động, thực vật nói chung và nơi cư trú, sinh sống của con người nói riêng.

Tất cả những mâu thuẫn, xung đột môi trường suy cho cùng đều xoay quanh ba chức năng nói trên của môi trường. Trong thời gian qua, xung đột môi trường ở nước ta bắt đầu phát sinh tập trung vào một số lĩnh vực, địa bàn, đối tượng chủ yếu sau:

Do mâu thuẫn, tranh chấp về khai thác, sử dụng làm lãng phí, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Đó là việc khai thác quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên rừng, biển, đất đai, nguồn nước, khoáng sản, động, thực vật... đồng thời việc chất thải của quá trình sản xuất, tiêu dùng ảnh hưởng xấu, gây ô nhiễm môi trường khu dân cư. Những xung đột này chủ yếu tập trung ở việc quản lý, sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên rừng, biển; xử lý chất thải... Những vấn đề tài nguyên, môi trường này nếu không được xử lý khéo léo, hài hòa sẽ có nguy cơ dẫn đến xung đột của cả một cộng đồng, tập thể lớn, lâu dài, khó giải quyết.

Những xung đột môi trường trong quá trình phát triển đô thị. Quá trình đô thị hóa diễn ra rất nhanh đồng thời với dòng người từ nông thôn đổ về các đô thị, trong khi đó việc quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng không theo kịp đã làm nảy sinh xung đột, mâu thuẫn trong cộng đồng, khu dân cư ngày càng nhiều, có khi gay gắt. Vấn đề giải quyết nạn thiếu nước sạch vào mùa hè, nạn úng lụt vào mùa mưa, nước thải, chất thải rắn, độc hại ở đô thị không được xử lý làm ô nhiễm môi trường; việc lấn chiếm vỉa hè, hồ ao, kênh rạch, đất lưu không, nơi công cộng, không gian chung để xây dựng, cơi nới nhà cửa, làm nơi buôn bán, dịch vụ... trở thành những vấn đề bức xúc ở các thành phố lớn, các khu đô thị, trở thành ‘điểm nóng’ ở nhiều khu dân cư, làm mất tình làng nghĩa xóm giữa các cộng đồng với cá nhân, giữa các gia đình, cá nhân với nhau, thậm chí nhiều vụ án mạng đã xảy ra từ những xung đột, mâu thuẫn nói trên.

Những xung đột môi trường diễn ra trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, làng nghề. Ở nhiều nơi, có các nhà máy được xây dựng, hoạt động từ trước khi đô thị phát triển. Đến nay, khu dân cư, nhà ở của dân được xây dựng xung quanh nhà máy; nhiều nhà máy đã quá cũ nát, công nghệ lạc hậu, từ đó nảy sinh xung đột do chất thải, nước thải, ô nhiễm môi trường không khí, nước, tiếng ồn. Không khí khu công nghiệp, khu chế xuất tuy được xây dựng cách xa khu dân cư nhưng vì chưa coi trọng công tác bảo vệ môi trường cho nên vẫn ảnh hưởng xấu, gây ô nhiễm môi trường cho các khu vực xung quanh.

Xung đột môi trường giữa các hộ gia đình với nhau. Xung đột môi trường này thường biểu hiện ở các dạng như: do ô nhiễm từ chất thải chăn nuôi gia súc; do các công trình vệ sinh, nước thải bị tắc, gây ô nhiễm; do ô nhiễm về tiếng ồn...

Có những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến xung đột môi trường, trong mỗi loại xung đột môi trường thường có những nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu, nhưng tựu chung có các nguyên nhân chính như: Sự gia tăng dân số ngày càng cao mà tài nguyên, môi trường thì ngày càng cạn kiệt, thiếu thốn. Sự nhận thức thiếu đúng đắn, không đầy đủ về tài nguyên, môi trường cũng như giá trị của nó. Hệ giá trị khác nhau dẫn đến sự khác nhau về lợi ích, mục tiêu trong khai thác sử dụng tài nguyên, môi trường. Thiếu sự tham gia xây dựng, đóng góp của các bên có liên quan trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên môi trường. Thiếu cân bằng, hài hòa về lợi ích trong khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường. Sự phân bố quyền lực khác nhau giữa các lực lượng, các nhóm xã hội trong quản lý, chi phối, điều hòa nguồn lợi tài nguyên, môi trường. Thiếu cơ chế, chính sách hoặc cơ chế chính sách không rõ ràng, yếu kém trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường, đặc biệt là xác định, thực hiện quyền sở hữu và quyền sử dụng, khai thác. Chưa tôn trọng, phát huy được những phong tục tập quán tốt đẹp của mỗi dân tộc, cộng đồng dân cư trong việc khai thác, quản lý,sử dụng, giữ gìn tài nguyên, môi trường.

Cùng với nhiều vấn đề khác, xung đột môi trường đã và đang tiềm ẩn gây phức tạp, thậm chí trở thành ‘điểm nóng’, những vụ khiếu kiện tranh chấp kéo dài ở các khu dân cư trong cộng đồng xã hội, trong chúng ta đang nỗ lực, tích cực xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Do đó, để ngăn chặn, hạn chế giải quyết xung đột môi trường, cần có nhiều giải pháp đồng bộ vừa mang tính cơ bản, lâu dài vừa cấp thiết trước mắt, kết hợp các giải pháp về giáo dục tư tưởng với các giải pháp về kinh tế, hành chính... Theo chúng tôi, có thể là một giải pháp:

Thứ nhất,xây dựng ban hành cơ chế, chính sách chia sẻ nguồn lợi chung về tài nguyên, môi trường. Phần lớn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường là của chung cho nên cần có sự chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm giữa nhà nước với các địa phương, cộng đồng. Chế độ quản lý tài sản bảo đảm lợi ích hài hòa cho tất cả những bên liên quan. Cần kết hợp giữa lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, lợi ích cá nhân trong các chính sách về tài nguyên, môi trường. Sự phân bố quyền lực khác nhau giữa các lực lượng, các nhóm xã hội trong quản lý, chi phối, điều hòa nguồn lợi tài nguyên, môi trường. Thiếu cơ chế, chính sách hoặc cơ chế chính sách không rõ ràng, yếu kém trong quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường đặc biệt là xác định, thực hiện quyền sở hữu và quyền sử dụng, khai thác. Chưa tôn trọng, phát huy được những phong tục tập quán tốt đẹp của mỗi việc khai thác, quản lý, sử dụng, gìn giữ tài nguyên, môi trường. Kết hợp với lợi ích công đồng với nhóm xã hội và lợi ích cá nhân trong các chính sách tài nguyên, môi trường.

Thứ hai,xây dựng các chính sách về tài nguyên, môi trường trong đó xác định rõ hơn về quyền sở hữu với quyền sử dụng các nguồn tài nguyên, môi trường. Xác lập được quyền quan trọng này là một yếu tố cơ bản để quản lý, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên, môi trường, giảm thiểu xung đột môi trường. Hiện nay, trong các chính sách về tài nguyên và môi trường ở nước ta xác định chưa thật đầy đủ, rõ ràng hoặc thực hiện không chặt chẽ, nghiêm túc giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị, ở nhiều nơi, tài nguyên môi trường bị tư nhân hóa dẫn đến thay đổi quyền sở hữu, tạo ra mất công bằng xã hội. Những yếu tố văn hóa xã hội truyền thống trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên bị thay đổi, xóa bỏ dẫn đến tình trạng đất đai, rừng, sông suối, khoáng sản bị khai thác, sử dụng một cách kiệt quệ vì nhiều người hiểu rằng tài nguyên, môi trường là “tài sản công cộng” nên ai cũng có quyền khai thác, sử dụng.

Thứ ba, xây dựng, hoàn thiện các chính sách tài chính về tài nguyên, môi trường, bảo đảm phát triển bền vững. Hiện nay, chính sách tài chính về tài nguyên, môi trường ở nước ta chưa đầy đủ, đồng bộ, chưa nhất quán, công bằng và còn nhiều kẽ hở. Việc đánh thuế tài nguyên, môi trường là một ví dụ. Có những tập tể, nhóm người trong xã hội sử dụng môi trường làm nơi chứa chất thải của mình trong sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận còn xã hội phải hứng chịu ô nhiễm môi trường. Xã hội phải bỏ một khoản tài chính nhất định, có khi rất lớn, để khắc phục sự ô nhiễm này. Việc đánh thuế tài nguyên cũng quá thấp hoặc chưa thực hiện nghiêm túc cũng là tác nhân gây thất thoát tài nguyên của đất nước. Từng đối tượng xã hội khác nhau cũng chịu sự chi phối, có quyền lợi, trách nhiệm khác nhau trong khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường nhưng chúng ta vẫn chưa đánh thuế đối với từng đối tượng này. Do đó việc xây dựng, hoàn thiện các chính sách tài chính về tài nguyên, môi trường, bảo đảm phát triển bền vững là quan trọng và cấp thiết.

Thứ tư, đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, xã hội hóa công tác quản lý, giải quyết xung đột môi trường bằng hòa giải. Công tác tuyên truyền các chủ trương, nghị quyết, chính sách, pháp luật về tài nguyên, môi trường cần được tăng cường đồng bộ hơn nữa, với phương châm “mưa dầm thấm lâu”. Hiện nay, đất nước ta có khoảng 650 cơ quan truyền thông đại chúng với hơn 800 sản phẩm báo chí các loại. Nếu cơ quan nào, ấn phẩm nào cũng thường xuyên quan tâm, có mục tuyên truyền quảng bá về vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường thì sẽ tạo ra một sức mạnh to lớn làm chuyển biến nhận thức tạo ra hành động giảm bớt sự suy thoái, bảo vệ tài nguyên, môi trường một cách rõ rệt. Muốn vậy, mỗi cơ quan thông tin đại chúng cần có chuyên trang về tài nguyên, môi trường với những phóng viên, nhà báo được bồi dưỡng nghiệp vụ, cung cấp, cặp nhật thông tin về vấn đề này. Nên có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan chủ quản về tài nguyên, môi trường ở Trung ương cũng như các bộ, ngành, địa phương với các cơ quan thông tin đại chúng trong việc cung cấp thông tin, phản hồi ý kiến, đánh giá, khen thưởng báo chí viết về tài nguyên, môi trường. Nên chăng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cũng như các sở Tài nguyên và Môi trường thành lập, phân công, có cơ chế về đầu mối cung cấp các thông tin cũng như sự phối hợp tuyên truyền về vấn đề này. Cần lồng ghép các nội dung về bảo vệ tài nguyên, môi trường trong các phong trào như xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, tại cộng đồng, công sở, trong việc xét, phong tặng danh hiệu thi đua của cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước. Cần xã hội hóa công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường theo hướng phát huy sức mạnh, tính tự chủ, sáng tạo của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, của mỗi gia đình, thành viên xã hội. Phân định rõ ràng đâu là nhiệm vụ quản lý của nhà nước, đâu là nhiệm vụ của tổ chức xã hội, đâu là chế độ tự quản của cộng đồng, khu dân cư. Kế thừa, phát huy những yếu tố văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam trong giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Khi xảy ra xung đột môi trường nên giải quyết dứt điểm ngay từ đầu với phương châm hòa giải là chính giữa các bên với nhau.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.