Xuất khẩu đồ gỗ: Thực trạng và giải pháp tận dụng cơ hội gia nhập WTO
5 thách thức trước WTO
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, nước ta hiện đứng thứ 15 trên thế giới về đồ gỗ xuất khẩu, với kim ngạch tăng trưởng nhanh. Năm 2003, đồ gỗ xuất khẩu (ĐGXK) đạt 567 triệu USD, năm 2004 là 1,154 tỷ USD, năm 2005 khoảng 1,6 tỷ USD, năm nay có nhiều triển vọng vượt chỉ tiêu 1,8 tỷ USD.
Tuy mức tăng kim ngạch là kỳ diệu, nhưng ĐGXK Việt Nam còn khá nhiều lận đận. Ông Trần Đức Sinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Lâm nghiệp, Phó chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết: “Cả nước hiện có gần 2.000 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gỗ và các loại đồ gỗ: Trước thềm WTO, ngành đang phải đối mặt với 5 khó khăn lớn. Đó là: sự phát triển thiếu bền vững do phải nhập tới 80-85% nguyên liệu; công nghệ thiết bị sản xuất lạc hậu; ngoài số ít đơn vị có tên tuổi, còn phần lớn là các doanh nghiệp quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp; nguồn nhân lực thừa nhưng vẫn thiếu đội ngũ thạo nghề; công tác xúc tiến thương mại chưa hiệu quả...”.
Trong khi Nhà nước đã hạn chế thu ngân sách vì nỗ lực giảm thuế để khuyến khích xuất - nhập khẩu đồ gỗ, thì các doanh nghiệp phải chịu thiệt do các nước áp dụng mức thuế cao, kể cả nhập gỗ nguyên liệu đến xuất khẩu sản phẩm. Tuy đồ gỗ Việt Nam đã nỗ lực vươn ra thị trường 120 quốc gia, nhưng thị phần còn quá nhỏ bé, tại 3 thị trường lớn nhất thì Nhật Bản chỉ chiếm 7-8%, Mỹ 3% và chưa đáng kể ở EU.
Một thực tế đang làm giảm giá trị của đồ gỗ Việt Nam là các doanh nghiệp chủ yếu làm gia công và bán hàng thô. Đối tác nước ngoài thường đến đặt hàng ở Việt Nam và sản phẩm pahỉ xuất đi nhưng dưới những nhãn hiệu khác. Chính vì vậy dù kim ngạch luôn tăng nhưng giá trị đích thực của đồ gỗ Việt Nam đã giảm đi nhiều lần.
Chuyện “nóng” ngành gỗ
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Chủ tịch kiểm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam từng coi khu vực làng nghề là “ngọn lửa truyền thống” có sức bật lớn khi gia nhập WTO. Thế nhưng, dù có tiềm năng lớn về ĐGXK, nhưng làng nghề lại là nơi còn nặng tính tiểu nông, sự liên kết rời rạc giữa các cơ sở là chuyện đáng lo trước thềm hội nhập. Ông Nguyễn Văn Khanh, Chủ tịch Hội Gỗ Bắc Ninh cho biết: “Ở làng Đồng Kỵ hiện nay vẫn còn tình trạng ganh đua mua bán sản phẩm, một số đơn vị còn làm hàng giả bằng gỗ tạp, gỗ kém chất lượng, gây tiếng xấu cho thương hiệu “của làng”. Lâu nay ai cũng biết nhưng không dám nói và cũng không cơ quan nào đứng ra can thiệp...”.
Cũng như nhiều ngành hàng khác, ĐGXK Việt Nam đã có quá trình dài hội nhập thế giới qua AFTA, ASEAN... Vậy mà người đại diện Hiệp hội Gỗ và Lâm sản vẫn sốt ruột bảo: “Đã sát “giờ G” vào WTO rồi nhưng hầu hết các doanh nghiệp ĐGXK không có điều kiện tối thiểu xuất khẩu, không có thương hiệu không quản lý theo ISO và đại đa số đơn vị không có chứng chỉ FSC (loại giấy chứng nhận sản phẩm có nguyên liệu xuất xứ từ khu rừng đảm bảo môi trường - NV)”.
Chuyện cay đắng còn hiển hiện ở nhiều doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh đồ gỗ. Để lo việc làm cho công nhân, doanh nghiệp kỳ công làm hàng mẫu, chi phí tốn kém để tiếp thị và tham gia hội chợ quốc tế. Nhưng khi ký được hợp đồng lớn thì lại không đủ năng lực sản xuất, chia cơ sở khác cùng làm thì không đúng tiến độ, cuối cùng đành... bỏ . Theo các chuyên gia kinh tế, lối làm ăn tiểu nông, nhỏ lẻ... là thách thức lớn nhất của các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ khi bước vào sân chơi lớn WTO.
Giải pháp: Mở rộng liên kết và xoá lối làm ăn tiểu nông
Hiện WTO đang chiếm 95% kim ngạch buôn bán thế giới. Bởi thế khi gia nhập WTO sẽ mở ra cơ hội lớn cho ĐGXK tiếp tục tăng trưởng giá trị xuất khẩu hàng hoá. Đồng thời, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị trường mà không còn gặp phải những rào cản thuế quan và phi thuế quan...
Quá trình tiến tới hội nhập WTO đến nay đã giúp ngành ĐGXK kịp nhận ra những vấn đề cần và đủ về thị trường và hội nhập. Có thể thấy, nỗ lực hơn 10 năm xây dựng thương hiệu VINAFOR của Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam là thực tế cho thấy bước chuyển năng động đó. Đại diện VINAFOR cho hay: “Từ năm 2005, khi được công nhận thương hiệu thì hình ảnh và vị thế của đơn vị được nâng cao. Hầu hết các đoàn khách quốc tế đến Việt Nam đều đề nghị đến với VINAFOR đầu tiên để hợp tác làm ăn. Với các đơn vị thành viên, khi có thương hiệu thì hoạt động sản xuất sẽ nhạy bén hơn với thị trường và có định hướng rõ ràng nên đạt hiệu quả kinh tế cao hơn”.
Nhiều ý kiến đánh giá, lợi thế của ĐGXK chính là tư duy thị trường của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ở phía Nam tăng cao hơn trước. Hơn nữa, sự ổn định môi trường chính trị ở nước ta là lực hấp dẫn lớn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời chất lượng nguồn nhân lực dần được nâng cao trên nền tảng là phẩm chất lao động cần cù, sáng tạo của người Việt...
Đưa ra câu hỏi lạc quan: “WTO sẽ là cánh cửa vàng của ĐGXK?”, lãnh đạo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho rằng cơ hội là rất lớn, song trước mắt các doanh nghiệp cần vượt qua những khó khăn để sẵn sàng hội nhập.
Để vượt qua được những khó khăn cũ, thách thức mới, các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ, các làng nghề sản xuất kinh doanh ĐGXK, các cơ quan quản lý nhà nước cần mở rộng liên kết, xoá bỏ tư duy tiểu nông, lối làm ăn nhỏ lẻ. Phải đặt lợi ích chung lên trên. Có vậy mới tận dụng được cơ hội khi chúng ta gia nhập WTO để phát triển.
Trồng rừng chủ động nguyên liệu sản xuất đồ gỗ
Ông Trần Đức Sinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Lâm nghiệp, Phó chủ tịch Hiệp hội Gỗ làm Lâm sản Việt Nam:
Để ĐGXK phát triển bền vững, tất yếu phải chủ động nguồn nguyên liệu, trước mắt vẫn tăng cường nhập khẩu, còn về lâu dài, công tác trồng rừng phải được tăng cường theo 2 hướng: Trồng cây mọc nhanh chu kỳ 5-7 năm, đường kính gỗ dưới 30cm để lấy nguyên liệu chế biến ván ghép thanh, ván nhân tạo và bán thành phẩm phục vụ sản xuất đồ mộc. Với cây gỗ lớn từ 15 năm trở lên cần tăng cường khâu chọn giống từ cây bản địa, cây du nhập để trồng thâm canh, tăng năng suất nhằm tiến tới đến năm 2020 giảm tối đa nguồn gỗ nhập khẩu, chủ động nguồn nguyên liệu trong nước.
Ông Trần Quốc Mạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh:
Việc thiếu nguyên liệu gỗ không thể một sớm một chiều khắc phục được. Tôi đề nghệ nên thành lập chợ nguyên liệu chuyên cung cấp gỗ đạt chuẩn.
Điều đáng mừng là hiện nay có một số doanh nghiệp nước ta đầu tư trồng rừng ở Nga, Nam Phi... Nhà nước nên có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hướng phát triển này. Tuy nhiên về lâu dài vẫn cần đẩy mạnh trồng rừng trong nước. Trong những năm tới, vùng duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ cần có quy hoạch phát triển các dự án trồng rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ xuất khẩu.
Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 35 (521), 28/8/2005, tr 3








