Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 04/06/2007 22:27 (GMT+7)

Xu hướng phát triển điều hòa không khí trung tâm với máy làm lạnh nước (chiller)

1. Giới thiệu

Lịch sử của hệ thống điều hòa không khí dùng nước lạnh bắt đầu bằng sáng kiến của ông tổ ngành điều hòa không khí W. Carrier cách đây đúng 100 năm khi ông dùng nước giếng lạnh bơm qua dàn sưởi để làm mát không khí phòng trong những ngày hè oi bức. Đây là dàn sưởi nước nóng vốn chỉ dùng để sưởi ấm cho mùa đông. Từ đó dàn được cải tiến dần, càng ngày càng nhỏ gọn và hiệu quả cả để sưởi trong mùa đông và làm mát trong mùa hè. Những nơi có nhiệt độ trung bình năm dưới 10 độ C có khả năng khai thác nước giếng sử dụng cho mùa hè còn những nơi có nhiệt độ trung bình cao hơn phải sử dụng máy làm lạnh nước (water chiller).

Các chiller đã được phát triển rất đa dạng về chủng loại và kích cỡ, kiểu dáng. Bên cạnh các chiller nén hơi với đủ các loại máy nén tuabin, pittông, trục vít, xoắn ốc, rôto, sử dụng môi chất R11, R134a, R123... đối với các loại chiller hấp thụ tác dụng đơn và tác dụng kép, cặp môi chất nước / brômualiti và chiller nén hơi chạy bằng động cơ diezel cũng được nghiên cứu phát triển mạnh mẽ.

Như đã nói ở trên, chiller có rất nhiều loại. Sơ bộ có thể phân loại chiller theo các đặc điểm sau:

- Theo nguồn năng lượng tiêu thụ có thể phân ra chiller chạy điện, chạy động cơ diezel hoặc chiller hấp thụ.

- Theo mục đích sử dụng có thể phân ra chiller làm lạnh nước, bơm nhiệt và kết hợp sử dụng cả 2 nguồn nóng và lạnh.

- Chiller nén hơi lại có thể phân ra kiểu máy nén sử dụng như kiểu tuabin, trục vít, pittông, xoắn ốc hoặc roto.

- Theo cách giải nhiệt phân ra giải nhiệt nước hoặc giải nhiệt không khí.

2. Tổng quan về thị trường:

Bảng 1: Tỷ lệ các kiểu chiller của thế giới và 4 nước đứng đầu (%)

Bảng 1: Tỷ lệ các kiểu chiller của thế giới và 4 nước đứng đầu (%)

Giá trị toàn bộ chiller sản xuất năm 2001 đạt khoảng 4 tỷ USD, chiếm khoảng 12% tổng giá trị của toàn bộ thiết bị điều hòa không khí toàn thế giới. Trong đó 4 nước đứng đầu là Mỹ 23%, TrungQuốc 17%, Nhật 8%, Ý 5%, các nước còn lại 47% xếp theo thứ tự Đài Loan, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Hàn Quốc... Các kiểu chiller theo tỷ lệ phần trăm của thế giới và 4 nước đứng đầu được giới thiệu ởbảng 1.

Chiller giải nhiệt gió kiểu bơm nhiệt năng suất nhỏ được sử dụng nhiều cho nhà ở và thương nghiệp ở Trung Quốc, Đài Loan, Nam Âu đặc biệt là Ý. Do khí hậu ôn hòa nên sưởi ấm mùa đông bằng bơm nhiệt của chiller là vừa đủ. Ở Trung Quốc, chiller bơm nhiệt phát triển mạnh do các dự án xây dựng nhà ở và thương mại phát triển và người ta đã quen với điều hòa trung tâm nước. Tuy nhiên các loại chiller như vậy đã biến mất ở Mỹ và Nhật. Ở Mỹ người ta sản xuất các hệ thống lạnh bay hơi trực tiếp có ống gió, còn ở Nhật sử dụng các loại VRV vì giá thành lắp đặt rẻ và hiệu quả tiết kiệm năng lượng cao.

Các loại chiller năng suất từ 53 đến 700kW, giải nhiệt gió hoặc nước (nếu giải nhiệt gió thường có thêm chức năng bơm nhiệt) dùng máy nén pittông, trục vít và xoắn ốc là phổ biến nhất ở hầu hết các nước, trong đó máy nén trục vít ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Máy nén thường được cung cấp bởi các nhà máy chế tạo như Bitzer, Frascold, FuSheng, Hanbell và RefComp. Chiller bơm nhiệt giải nhiệt gió phát triển ở Trung Quốc và Nam Âu vì chính sách loại bỏ nồi hơi để tiết kiệm năng lượng so cấp của Chính phủ. Ở Nhật, chiller bơm nhiệt giảm xuống đáng kể do chuyển sang VRV vì Nhật đạt được các tiến bộ cơ bản với loại máy này như đơn giản trong lắp đặt, vận hành, tự động hóa, giá thành hạ, hiệu quả năng lượng cao, tiết kiệm diện tích và không gian lắp đặt.

Mỹ là nước sản xuất chiller lớn nhất thế giới cho các ứng dụng thương nghiệp nhưng hầu như không có chiller giải nhiệt gió bơm nhiệt bán trên thị trường. Lý do chính là khí hậu lạnh hơn và năng suất nhiệt của bơm nhiệt thường không đủ sưởi cho mùa đông lạnh giá.

Các chiller lớn (năng suất trên 350kW lạnh) có cả 2 loại giải nhiệt nước và giải nhiệt gió. Chiller năng suất đến 700kW vẫn còn loại giải nhiệt gió nhưng theo kiểu lắp ghép modul, phần lớn là máy nén trục vít và tuabin.

Mỹ là nước sản xuất một nửa số chiller tuabin của toàn thế giới, và chủ yếu cũng tiêu thụ tại Mỹ. Riêng ở châu Âu, hầu như người ta không sản xuất chiller tuabin. Các nhà sản xuất chiller tuabin ở Mỹ là Carrier, Trane, York và McQuay. Sản phẩm của họ xuất đi toàn thế giới, ngoài ra họ còn xây dựng các nhà máy sản xuất liên doanh ở Trung Quốc.

Chiller hấp thụ thường được sử dụng để cung cấp nước lạnh và nước nóng đồng thời kiểu trung tâm cho khu dân cư, công nghiệp và các xí nghiệp. Năng suất lạnh thường từ 35kW trở lên. Ba nước sản xuất hàng đầu là Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc (chiếm 83% sản lượng toàn thế giới). Số lượng chiller hấp thụ thế giới sản xuất năm 2001 là 6540 máy. Chiller hấp thụ năng suất nhỏ hơn 350kW lạnh chủ yếu được chế tạo tại Nhật và Hàn Quốc và chủ yếu đốt bằng dầu.

Có 3 kiểu chiller hấp thụ chính là:

a. Kiểu tác dụng đơn gia nhiệt bằng nước nóng (SEA - Single Effect) hoặc bằng hơi áp suất thấp:Kiểu tác dụng đơn thường được sử dụng ở những nơi có nguồn nhiệt thải như nước nóng hoặc hơi nhiệt độ 80 - 90 độ C; ví dụ nước thải hoặc khói thải từ các động cơ diezel chạy máy phát. Nước lạnh có thể sử dụng cho điều hòa không khí còn nước nóng dùng cho sinh hoạt.

b. Kiểu tác dụng kép gia nhiệt bằng hơi nước (DEA - Double Effect):Kiểu máy này rất phổ biến với năng suất lạnh tương đối lớn, áp suất hơi trung bình (đặc b iệt 0,8kPa), có hệ số nhiệt 1,2 đến 1,4. Nếu sử dụng hơi nước gia nhiệt vào mùa đông thì có thể sử dụng ngay nồi hơi đó để chạy máy chiller vào mùa hè mà không phụ thuộc vào nguồn điện. Hệ thống sưởi ấm và làm lạnh trung tâm với tuabin khí truyền động cho máy phát điện có thể sử dụng khí thải để sản xuất hơi chạy máy DEA theo kiểu đồng phát.

c. Kiểu tác dụng kép gia nhiệt trực tiếp bằng đốt dầu hoặc gas (DFA):Kiểu DFA rất thông dụng ở ba nước châu Á là Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc do chủ trương dùng gas để giảm tiêu thụ điện năng vào mùa hè. Ví dụ ở Nhật, DFA tăng nhanh do đường ống gas tới các tòa nhà được lắp đặt miễn phí và giá gas được giảm rất nhiều vào mùa hè. Như vậy DFA có lợi hơn rất nhiều cho người sử dụng so với máy điều hòa dùng máy nén hơi. Nhiều DFA được lắp đặt ngay trên tầng thượng tòa nhà nên còn tiết kiệm được không gian và diện tích, giảm nguy cơ cháy nổ. Các công ty gas còn giúp đỡ để phát triển kỹ thuật nâng cao hiệu suất của DFA đến 35% và DFA tác dụng ba (triple effect) với hệ số lạnh lên đến 1,60 mà chỉ tăng về kích thước cũng như giá cả chưa tới 20% so với máy cũ.

3. Phát triển chiller ở Nhật

Bảng 2: (theo số liệu của JARN 11/2003)

Bảng 2: (theo số liệu của JARN 11/2003)

Phát triển chiller ở Nhật trong 10 năm (1995 - 2002) được giới thiệu ở bảng 2.

Số liệu năm 2002 cho thấy, so với năm 2001 sản lượng giảm khoảng 15,3% và giảm gần 42% so với năm 1995. Sự giảm sút đó có nhiều nguyên nhân khác nhau. Một mặt như trên đã nói có sự dịch chuyển từ sử dụng chiller sang hệ VRV, mặt khác là do ảnh hưởng của sự chuyển đổi môi chất lạnh. Ví dụ đối với máy nén tuabin, trước đây là R11. Do R11 bị cấm nên phải chuyển sang R134a là do môi chất không phá hủy ozôn. Tuy nhiên R134a có hiệu suất thấp nên ngày nay người ta v ẫn còn sử dụng R123 là chất thay thế tạm thời.

Chiller hấp thụ của Nhật được 7 hãng chế tạo là MHI, Sanyo, Kawasaki, Ebara, Hitachi , Yazaki và Takuma. Chiller hấp thụ như đã giới thiệu có rất nhiều loại và rất khó để đánh giá và so sánh. Sanyo vừa qua đã cho ra đời chiller hấp thụ có hệ số tới 1,45 thế hệ “Gene – link” sử dụng nhiệt thải. Các hãng khác cũng đang từng bước nâng cao hiệu suất năng lượng.

Chiller tuabin của Nhật tương đối nhỏ bé với ba nhà sản xuất chính là Hitachi , MHI và Ebara. Nhiều máy lớn được các bên liên doanh Nhật - Mỹ nhập từ Mỹ về, ví dụ trane Japan nhập “CenTraVac” hiệu suất cao của Trane trên cơ sở OEM. Toshiba – Carrier nhập khẩu chiller Carrier “Evergreen” môi chất R134a hiệu suất cao khi chạy một phần tải.

Chiller dùng máy nén pittông và trục vít có thị trường tốt hơn so với tuabin do gọn nhẹ hơn, khả năng bảo dưỡng sửa chữa dễ dàng hơn và tự động hóa tốt hơn... và do môi chất R134a có hiệu quả. Daikin, Hitachi và Mitsubishi Electric Corp (Melco) là 3 nhà sản xuất chính chiller loại này, ngoài ra là các hãng MHI, Ebara, Toshiba - Carrier, Mayerkawa và Kobelco. Trong khi các nhà chế tạo khác sử dụng R134a thì Daikin Toshiba - Carrier và Hitachi sử dụng R407C trong các máy pittông cỡ trung và Mayerkawa lại đi vào chế tạo các máy chiller lớn sử dụng môi chất NH 3. Một số hãng chế tạo chiller có chức năng trữ lạnh bằng nước đá như Daikin, Hitachi , Melco...

4. Phát triển chiller ở Mỹ:

Cũng giống như ở Nhật, thị trường Mỹ về chiller cũng càng ngày càng thu hẹp tuy Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất thế giới, đặc biệt là loại chiller lớn và siêu lớn. Loại chiller nhỏ, năng suất lạnh 90 – 280kW sản xuất năm 2002 khoảng 11.000 máy. Máy nén chủ yếu là trục vít và xoắn ốc. Máy nén pittông càng ngày càng ít sử dụng hơn. Các loại chiller lớn ước tính xuất xưởng trong năm 2002 khoảng 45.000 chiếc. Máy nén chủ yếu là tuabin và trục vít, năng suất lạnh từ 350kW đến 1.750kW, đặc biệt đến 10.500kW.

Môi chất lạnh dùng cho chiller trục vít giải nhiệt nước chủ yếu là R134a còn cho tuabin là R123 và R134a.

Chiller hấp thụ có sản lượng khoảng 1.900 bộ năm 2002 và chia đều cho cả 2 loại lớn và nhỏ. Các nhà sản xuất chính vẫn là carrier, Trane, York và McQuay.

Trong năm 2002, nhiều ông chủ các tòa nhà ở Mỹ phải loại bỏ hoặc chuyển đổi chừng 2.594 chiller chạy bằng CFC đã bị cấm do phá hủy tầng ozôn. Trong số khoảng 38.800 bộ vẫn còn đang sử dụng CFC. Đầu những năm 90 thế kỷ trước con số này lên tới hơn 80.000 bộ chiller lớn làm việc với CFC. Hạn cuối cùng của Nghị định thư Montreal để chấm dứt sử dụng CFC cho các máy lạnh và điều hòa là 31/12/1995, nhưng do những yếu kém của nền kinh tế Mỹ nên mỗi năm chỉ thay thế hoặc chuyển đổi môi chất lạnh mới cho khoảng hơn 2.000 bộ, tuy rằng những chiller mới do được cải tiến và phát triển đã đạt được hiệu suất năng lượng cao hơn nhiều. Nếu so sánh với các loại chiller cách đây 20 năm, chiller ngày nay tiết kiệm được khoảng 30% năng lượng sơ cấp do hiệu suất tăng lên. Theo các khảo sát mới nhất thì năm 2003 sẽ thay thế khoảng 2.549 chiller và chuyển đổi môi chất cho 334 chiller khác, nâng con số chiller được chuyển đổi môi chất đến cuối năm lên 44.072 bộ, bằng khoảng 55% số chiller lớn (80.000 bộ) sử dụng CFC như R11, R12 sang môi chất HFC như R134a, R410a và R407 là các môi chất không phá hủy tầng ozôn.

Sản lượng chiller của Mỹ do nhiều điều kiện như nền kinh tế yếu ớt, môi chất lạnh thay đổi... đã giảm từ 7.171 bộ năm 2001 xuống 5.739 bộ vào năm 2002 (giảm 20%). Qua các con số trên ta cũng thấy Mỹ là nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất của việc cấm môi chất CFC và cũng là nước không nghiêm chỉnh nhất trong việc thực hiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.