Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 22/12/2010 18:27 (GMT+7)

Xây dựng khu bảo tồn biển biện pháp hữu hiệu để duy trì, phát triển kinh tế biển

Tuy nhiên, đến nay việc bảo tồn các khu vực biển vẫn chưa được quan tâm đúng mức, hệ thống các khu bảo tồn biển nước ta vẫn chưa được coi là tồn tại chính thức. Vì vậy, nhiều vùng biển đã và đang bị xâm hại đến mức báo động. Nguyên nhân của tình trạng trên là do trong nhiều năm liền chúng ta chỉ quan tâm đến khai thác lợi ích kinh tế - xã hội mà các vùng biển này đem lại nền kinh tế thị trường tác động đến khu bảo tồn này.

Thực trạng các khu bảo tồn biển ở Việt Nam

Năm 1962, Khu bảo tồn vườn Quốc gia Cúc Phương được thiết lập với mục đích bảo tồn tài nguyên rừng và là khu bảo tồn đầu tiên có ở Việt Nam. Tiếp sau đó nhiều khu bảo tồn khác ra đời bao gồm cả trên đất liền, ven biển và các hòn đảo trên thềm lục địa... Nhưng mục tiêu chính của các khu bảo tồn là bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường biển vẫn chưa được quan tâm một cách sâu sắc. Đến năm 1986, vườn Quốc gia Cát Bà được thành lập với 5.400 ha vùng nước, được coi là khu bảo tồn biển (KBTB) đầu tiên của nước ta. Và đến năm 1993, phân vùng bảo tồn đa dạng sinh học biển mới được đưa vào nằm trong quy hoạch quản lý của Vườn Quốc gia Côn Đảo. Tuy vậy, việc quản lý các khu bảo tồn vẫn chưa được đặt ngang tầm với những lợi ích của nó đem lại cho sự phát triển kinh tế. Đến nay sau nhiều động thái tích cực của các cấp, ngành, các khu bảo tồn biển cũng đón nhận được một số tin vui từ sự quan tâm, chú trọng đầu tư, bảo vệ của các tổ chức vào vùng đảo này. Nhưng với các khu vực dự trữ một khối lượng lớn về tài nguyên đa dạng sinh học đang tồn tại trên các đảo như Phú Quốc, Cù Lao Tràm... dường như vẫn còn bỏ ngỏ.

Hiện tại, dọc bờ biển nước ta đang tồn tại nhiều khu vực dự trữ tài nguyên sinh thái biển lớn với những tính chất khác nhau, phần lớn đều đã được lập dự án đưa vào thành khu bảo tồn. Các khu bảo tồn được thiết lập trên cơ sở đa dạng và phong phú, có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau trong sự phát triển. Tiêu biểu như rừng ngập mặn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Nhưng một thực tế đặt ra hiện nay là sự phát triển của nguồn lợi thủy sản và những tác động của con người trong quá trình khai thác thủy sản làm ảnh hưởng xấu trực tiếp đến KBTB này. Trong khi, các khu bảo tồn hoạt động với mục tiêu chính là bảo vệ nguồn lợi thủy sản, môi trường biển nhưng lại ít được quan tâm đầu tư đúng mức, ngoài ra một số khu bảo tồn ven biển như Bắc và Nam Hải Vân, Hòn Nưa... Tại cuộc Hội thảo “Quy hoạch hệ thống KBTB Việt Nam đến năm 2010” các nhà khoa học cho biết: Tổng thể diện tích của hệ thống KBTB Việt Nam có khoảng hơn 2 triệu ha (khoảng 120 KBTB) chiếm gần 6% diện tích lãnh thổ tự nhiên. Trong đó có khoảng 7% diện tích này đã được xác lập từ những năm đầu của quá trình đổi mới đất nước và chủ yếu tập trung trên đất liền. Sự có mặt của các KBTB vườn Quốc gia Cát Bà, Côn Đảo, Hòn Mun (Nha Trang) với tổng diện tích phần biển chiếm một tỷ lệ không đáng kể (khoảng 28.400 ha).

Nhận thức được vai trò quan trọng của các KBTB đối với phát triển kinh tế xã hội đất nước, trong những năm gần đây nhiều KBTB đã được quan tâm nghiên cứu và thiết lập, đồng thời kêu gọi được sự hợp tác, trợ giúp của các tổ chức quốc tế nên một số nơi đã có sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn như Hòn Mun, Cát Bà...

Phát triển kinh tế - Mặt trời của vấn đề

Sự phát triển của kinh tế biển đã góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động và góp phần xóa đói giảm nghèo là kết quả không thể phủ nhận. Song, sự tăng trưởng kinh tế biển lại không đi đôi với việc xây dựng và bảo tồn đã kéo theo sự suy thoái môi trường biển, làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản. Theo ước tính mỗi năm, nước thải từ các con sông đổ ra biển mang theo hàng trăm triệu tấn phù sa cùng nhiều tạp chất gây ô nhiễm môi trường biển. Mặt khác, tại các vùng ven biển thường diễn ra các hoạt động khai hoang, lấn biển để làm nông nghiệp và xây dựng các khu kinh tế mới đã gây tác động không nhỏ đến môi trường, cảnh quan sinh thái tự nhiên của biển. Ngoài ra, quá trình canh tác phát triển kinh tế nông nghiệp, mỗi năm con người gián tiếp thải ra khoảng 20.000 tấn thuốc phòng trừ sâu bệnh còn tồn dư ra biển. Việc phát triển các vùng nuôi trồng thủy sản với tốc độ nhanh như hiện nay tại các đầm phà, eo vịnh, bãi triều, các vùng trồng lúa kèm hiệu quả và các hình thức nuôi cá lồng bè quây lưới ở mật độ dày, thải ra một lượng không nhỏ thức ăn dư thừa cũng là tác nhân không nhỏ gây ô nhiễm nguồn nước, phát sinh dịch bệnh tràn lan. Không những thế, tình trạng khai thác nguồn lợi thủy sản bằng đánh mìn, sử dụng hóa chất động hại đã làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn lợi thủy sản và gây hậu quả xấu đến các vùng sinh thái biển, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng trầm tích đáy biển, môi trường cư trú của nhiều loài thủy sải sản. Theo các nhà nghiên cứu, ở các vùng xác định là có ảnh hưởng từ những tác động của con người trong các vùng phát triển kinh tế, hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong các mẫu sinh vật đáy ở các vùng cửa sông ven biển phía Bắc đều cao hơn giới hạn cho phép. Điều này đã có tác động không nhỏ đến tiền tình phát triển tự nhiên của sinh vật biển cũng như ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản mà biển ban tặng cho con người.

Diện tích rừng ngập mặn (RNM) ngày càng bị thu hẹp, môi trường suy thoái và nguồn lợi thủy sản ven biển bị cạn kiệt. Do mất RNM, số lượng sinh vật phù du và sinh vật đáy làm thức ăn cho các loài thủy sản giảm đi đáng kể, dẫn đến tình trạng giảm sút năng suất tôm nuôi quảng canh. Theo ước tính, trước đây cứ 1 ha RNM có thể khai thác được 700 – 1000 kg thủy sản thì nay chỉ thu được khoảng ½ số đó.

Mặc dù rừng sinh thái đóng vai trò quan trọng đối với môi trường biển và được con người ví như ‘rừng mưa nhiệt đới dưới đáy biển’ hệ sinh thái này đang bị khai thác quá mức bằng các phương tiện mang tính hủy diệt. Khai thác san hô làm vội vã đồ lưu niệm khiến cho môi trường sinh thái dưới đáy biển bị suy thoái nghiêm trọng. Theo đánh giá của Viện Tài nguyên Thế giới, năm 2002 có đến 80% rừng sinh thái biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro cao do tác động của con người. Và tình trạng này cũng đang diễn ra tương tự với hệ sinh thái thảm cỏ biển, các thảm cỏ biển ở vùng cửa sông, đầm phá, vùng triều và ven một số đảo bị khai thác bừa bãi làm phân bón hoặc thức ăn cho gia súc.

Hơn 10 năm trở lại đây, hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã góp phần ngăn chặn những tình trạng trên. Tuy nhiên, việc bảo vệ ở diện rộng không thể đạt hiệu quả cao vì nhiều lý do về kinh tế, xã hội. Việc thiết lập các KBTB là một giải pháp góp phần duy trì bền vững nguồn lợi thủy sản đã được đặt ra từng bước được quan tâm nhưng chưa phát huy được hiệu quả trong thực tế, cần được thảo luận không chỉ về chủ trương mà cả về thực tiễn.

Giải pháp nào cho các KBTB ở Việt Nam

Theo các chuyên gia nghiên cứu về KBTB trên thế giới: thành lập KBTB là phương thức hiệu quả và ít tốn kém để duy trì và quản lý nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng sinh học và đáp ứng những mục tiêu bảo tồn khác cũng như nhu cầu kinh tế của con người. Việc thiết lập KBTB sẽ làm mật độ sinh vật biển tăng gấp đôi, sinh khối tăng ba lần, kích thước của sinh vật và đa dạng sinh học tăng lên 20 – 30% so với vùng không nằm trong KBTB. Trong các KBTB, trữ lượng hải sản tăng lên sau một thời gian thiết lập (thường là sau 5 năm) sẽ cung cấp các ấu trùng hải sản cho các bãi cá bên ngoài nhờ các dòng chảy biển và đại dương.

Vì vậy, việc thành lập các KBTB không chỉ góp phần đảm bảo cân bằng sinh thái vùng biển, đa dạng sinh học, điều hòa môi trường và nguồn giống hải sản mà còn có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh tế lâu dài, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái. Đồng thời nó còn là cơ sở, là công cụ hành chính và pháp luật trong việc đấu tranh và bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trong phạm vi đặc quyền kinh tế của nước ta. Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Chu Hồi – Viện kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, khi quy hoạch hệ thống KBTB điều trước tiên phải hướng tới tính khả thi. Hiện tại việc thiết kế hệ thống bảo tồn biển và vùng ven bờ còn nhiều trở ngại từ những vấn đề liên quan đến tính quản lý, chưa có văn bản pháp lý phân công trách nhiệm một cách rõ ràng. Tính khả thi trước tiên là nên đề cao vai trò các địa phương tại các KBTB, có thể giao quyền và trách nhiệm cụ thể cho chính quyền địa phương thuộc địa bàn đó. Có vậy mới phát huy được tính hiệu quả trong bảo vệ môi trường và tài nguyên.

Nhận thức về bảo tồn biển đang là vấn đề lớn không chỉ đối với cộng đồng mà cả với các nhà quản lý. Thực tế cho thấy, không ít cán bộ môi trường ở các tỉnh ven biển vẫn còn mơ hồ với khái niệm KBTB. Bên cạnh đó ở cấp quốc gia, việc quan tâm đầu tư cho các KBTB cũng chưa tương xứng với tiềm năng đem lại. Một thực tế đặt ra là, đội ngũ cán bộ quản lý chuyên ngành tại các KBTB vẫn còn thiếu, số cán bộ đang hoạt động vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu công việc. Điều đó dẫn đến việc quản lý không thể đồng bộ và hiệu quả.

Yêu cầu đặt ra đối với các KBTB nước ta hiện nay là có những giải pháp đồng bộ, triển khai nhanh chóng việc giảm thiểu những tác động từ mặt trái của sự phát triển kinh tế. Có như vậy mới bảo vệ, duy trì và phát triển nguồn tài nguyên của biển của đất nước.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nghệ An: Ông Đậu Quang Vinh giữ chức vụ Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh Nghệ An
Trong hai ngày 29-30/12, tại tỉnh Nghệ An, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An (Liên hiệp Hội tỉnh Nghệ An) đã tổ chức thành công Đại hội Đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025-2030. Ông Đậu Quang Vinh đã được Đại hội tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh khoá VII, nhiệm kỳ 2025-2030.
WFEO: Kênh kết nối cộng đồng kỹ sư quốc tế và cơ hội tham gia của cộng đồng kỹ sư Việt Nam
Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc vào các giải pháp kỹ thuật để giải quyết những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, đô thị hóa và chuyển đổi số, vai trò của các kỹ sư trở nên then chốt hơn bao giờ hết. Đứng sau sức mạnh tập thể của hơn 30 triệu kỹ sư trên toàn cầu là Liên đoàn các Tổ chức kỹ sư Thế giới (World Federation of Engineering Organizations - WFEO).
Trung tâm SUDECOM nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp cho cộng đồng
Sáng ngày 29/12, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Bền vững Cộng đồng các Dân tộc Miền núi (Trung tâm SUDECOM) đã tổ chức hội nghị tổng kết dự án “Hỗ trợ mô hình sinh kế và nâng cao năng lực tiếp cận chuỗi giá trị nông nghiệp cho cộng đồng nhằm góp phần tăng thu nhập và bình đẳng giới tại 3 xã Lương Thịnh, Thác Bà, Yên Bình, tỉnh Lào Cai”.
VUSTA nhận Bằng khen của Bộ Ngoại giao vì những đóng góp tiêu biểu trong công tác đối ngoại nhân dân 2025
Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác đối ngoại nhân dân 2025, Phó Chủ tịch VUSTA Phạm Ngọc Linh khẳng định đội ngũ trí thức KH&CN đã có những đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của công tác đối ngoại nhân dân 2025. VUSTA cam kết tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong đối ngoại nhân dân, góp phần thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN, ĐMST&CĐS trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
An Giang: Hoàn thiện khung hệ giá trị văn hóa trong kỷ nguyên mới
Ngày 26/12, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tổ chức hội thảo: “Xây dựng và phát huy hệ giá trị văn hóa, con người An Giang thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong kỷ nguyên mới”. TS. Hồ Ngọc Trường - Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng; Bà Nguyễn Thị Hồng Loan - Phó Trưởng Ban TG&DV Tỉnh ủy đồng Chủ trì hội thảo
Đảng, Nhà nước tặng quà nhân dịp chào mừng Đại hội XIV của Đảng và Tết Bính Ngọ
Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký công điện số 418 ngày 28/12/2025 về việc tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và đối tượng yếu thế khác.
Lào Cai: Hội nghị triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026
Chiều 28/12, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh tổ chức hội nghị Ban Chấp hành nhằm đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2025; thảo luận, thống nhất phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và quyết định một số nội dung theo thẩm quyền.