Xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học thống nhất - Một yêu cầu thời sự
Rất may mắn cho chúng ta là ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, cố Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã cho ra đời quyển sách “ Danh từ khoa học”. Tác phẩm quan trọng và quí báu này không chỉ đã trở thành một công cụ hữu hiệu cho những người làm công tác khoa học trong buổi “khởi đầu nan”, mà còn tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho việc thực hiện chủ trương giảng dạy thống nhất bằng tiếng mẹ đẻ trong nhà trường các cấp từ Bắc vào Nam sau ngày dân tộc ta giành lại được nền độc lập.
Dưới tác động của những yếu tố khác nhau, ở hai miền của đất nước ta, hệ thống thuật ngữ khoa học đã được điều chỉnh, bổ sung và phát triển theo những chiều hướng khác nhau. Ở mỗi miền, trong các lĩnh vực khoa học khác nhau lại cũng đã có một số thuật ngữ khác nhau được áp dụng cho cùng một đối tượng. Trong thời gian gần đây, sự phát triển nhanh của các ngành khoa học đã là nguyên hình thành và xuất hiện nhiều thuật ngữ mới. Xu thế hội nhập quốc tế cũng tạo điều kiện cho nhiều thuật ngữ khoa học thâm nhập vào nước ta mà chưa qua một quá trình chọn lọc cần thiết. Để cho nền khoa học nước nhà tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đi vào sản xuất và đời sống, để đông đảo quần chúng nhân dân có thể tham gia vào các hoạt động khoa học và các nhà khoa học Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia các hoạt động khoa học quốc tế, để phục vụ công tác giảng dạy, học tập trong các nhà trường, việc xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học thống nhất đang trở thành một yêu cầu bức thiết.
Đối với các thuật ngữ khoa học, tiêu chí đầu tiên là tính khoa học.Mỗi thuật ngữ cần biểu đạt một sự vật, hiện tượng hay quá trình một cách chính xác, tường minh và đơn trị, không gây nhầm lẫn. Tính khoa học cũng đòi hỏi các thuật ngữ phải nhất quán trong cả hệ thống.
Xét cho cùng, các thuật ngữ khoa học tiếng Việt trước hết là của người Việt Nam, do người Việt Nam tạo ra và tồn tại vì người Việt Nam. Cho nên chúng cần phải đảm bảo tính dân tộcvà bao gồm tới mức tối đa các từ hoặc cụm từ tiếng Việt theo các quy tắc ngôn ngữ Việt Nam. Tính dân tộc cũng có quan hệ chặt chẽ với việc tôn trọng các thuật ngữ đã trở thành truyền thống.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, trình độ học vấn của nhân dân nước ta đã và đang được từng bước nâng lên. Mạng lưới các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng tham gia cung cấp những thông tin khoa học phong phú và đa dạng. Tình hình đó đòi hỏi các thuật ngữ khoa học cần phải gần gũi với đại đa số người sử dụng, đảm bảo tính đại chúngrộng rãi.
Càng ngày các tri thức cơ bản của nhiều ngành khoa học càng được nhanh chóng phổ biến rộng rãi vượt qua các biên giới quốc gia và trở thành tài sản chung của cả loài người. Tiếp theo sự gặp gỡ với nền văn hoá và khoa học phương Tây, bắt đầu trong những năm đầu thế kỷ XX, thì kể từ hơn hai thập niên trở lại đây Đảng, Nhà nước và nhân dân ta thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, muốn làm bạn với nhân dân tất cả các nước, nhiều lĩnh vực khoa học của nước ta đã có bước phát triển mới. Trong bối cảnh đó, hội nhập quốc tếđang trở thành một yêu cầu thời sự đối với các thuật ngữ khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học nước ta tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, đồng thời giới thiệu các thành tựu của mình, góp phần vào sự nghiệp chung của toàn thế giới đang phát triển các ngành khoa học.
Các tiêu chí nêu trên có mối quan hệ và tác động qua lại với nhau. Quan hệ đó có thể cùng chiều và là sự bổ sung cho nhau. Tính khoa học được đề cao cũng có thể hỗ trợ cho tính hội nhập quốc tế, Nhưng cũng có trường hợp sự nhấn mạnh quá mức tiêu chí này có thể làm lu mờ tiêu chí kia. Sự cường điệu hoá tiêu chí khoa học có thể gây khó khăn cho việc thừa kế truyền thống dân tộc và cũng hạn chế tính chất đại chúng. Ngược lại việc tuyệt đối hoá tiêu chí đại chúng có thể tầm thường hoá nội dung khoa học.
Từ thực trạng đất nước ta còn tương đối nghèo và chậm phát triển, có thể nảy sinh ý kiến cho rằng cần phải ưu tiên cho tiêu chí hội nhập quốc tế, có thể tiếp thu trực tiếp nguyên bản hoặc phiên dịch các thuật ngữ nước ngoài và áp dụng cho các hoạt động khoa học ở trong nước. Điều đó có thể phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi trước mắt cho một số người. Nhưng nhìn về lâu dài và để phục vụ đông đảo nhân dân thì cần lưu ý một số điều. Với đặc điểm là tính đơn âm tiết và tính đa thanh điệu, tiếng Việt có nhiều thuận lợi trong sự hình thành các thuật ngữ. Những thuật ngữ thuần Việt được người Việt Nam đọc, viết và hiểu dễ dàng hơn các từ ngoại quốc. Việc xây dựng và sử dụng các thuật ngữ thuần Việt đã từng là một ưu điểm và thành tựu lớn của các nhà khoa học tiền bối của nước ta. Ngay cả khi phiên dịch thì cũng cần phải Việt hoá tối đa các thuật ngữ khoa học được sử dụng. Đây cũng là một cách thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Vì vậy, các yếu tố truyền thống dân tộc nên được xem xét ưu tiên. Tuy nhiên, điều đó không hề cản trở việc tiếp thu nguyên bản một số thuật ngữ khoa học chuyên sâu, mới xuất hiện, đã trở thành phổ biến trong nhiều ngôn ngữ và việc chuyển sang tiếng Việt gặp nhiều khó khăn. Đây là một vấn đề không chỉ của riêng nước ta mà là chung của nhiều nước khác trong quá trình chuyển ngữ.
Giống như nhiều ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt vắng mặt một số âm và vần rất cần thiết cho việc xây dựng các thuật ngữ khoa học mới hoặc sử dụng các thuật ngữ khoa học đã trở thành phổ biến, đặc biệt là danh pháp hoá học hoặc sinh học. Tuy nhiên, một thuận lợi quan trọng là chúng ta đang sử dụng các chữ cái La tinh, tạo điều kiện cho chúng ta nhận biết và thể hiện các âm, các vần còn thiếu vắng đó.
Về các phụ âm đơn, trong thời gian qua, ở nơi này hay nơi khác, đã có sự tiếp nhận thêm một số phụ âm như: f, j, w, z. Đây cũng là hiện tượng thường gặp. (Lúc đầu, bảng chữ cái La tinh chỉ gồm 21 chữ cái, về sau, qua nhiều thế kỷ, đã bổ sung thêm 5 chữ cái nữa là y, z, w, j và u, nên ngày nay mới có tất cả 26 chữ cái. Ngay trong tiếng Việt cũng đã có các nguyên âm và chữ cái mà bảng chữ cái La tinh không có: ă, â, đ, ê, ô, ơ, ư). Trong một số trường hợp, các tổ hợp mới gồm hai hoặc ba phụ âm như cl, cr, fl, pr, str.. cũng đã được sử dụng trong các thuật ngữ khoa học tiếng Việt.
Đối với các vần, có thể nêu lên một số trường hợp. Trước hết là các “vần xuôi” như ce, ci, cy, ge, gy mà cách đọc trong tiếng Việt và trong nhiều nước ngoài cũng có những sự khác nhau. Các “vần ngược” với nguyên âm đứng trước và phụ âm đứng sau: ab, ad, af, al, ar, as, el, er, es, ex, ic, id, is, od, ol, or, os, ul, ur, yl cũng cần được xem xét.
Trong một số trường hợp, việc tiếp nhận các âm, vần trên đây là cần thiết, tuy nhiên cần được thực hiện một cách thận trọng, có chọn lọc, thống nhất và chỉ nên áp dụng khi nhất thiết có sự phân biệt với các âm, vần tương tự, có sẵn trong tiếng Việt, tránh mọi biểu hiện lạm dụng, “theo mốt”. Vì ngôn ngữ luôn luôn phát triển cho nên về lâu dài, các âm vần được tiếp nhận có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tiếng Việt. Vấn đề đặt ra là cần sớm nghiên cứu xu thế đó, chủ động đề ra các giải pháp hợp lý, trong đó không loại trừ các giải pháp chính thức của các cơ quan Nhà nước.
Trong thời gian gần đây, một số hoạt đọng xây dựng thuật ngữ khoa học đã được khởi động và thu được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ. Quá trình đó làm rõ thêm sự cần thiết phải tập hợp được một đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, có trình độ cao về chuyên môn, đại diện cho một số trung tâm khoa học trong cả nước, lại thông thạo tiếng Việt và đặc biệt là có tâm huyết với công việc cần sự thận trọng, kiên nhẫn và tỷ mỉ này. Ngày nay, mỗi ngành khoa học đều tác động hoặc ít nhiều đến các ngành khoa học khác. Thậm chí, giữa một số ngành khoa học gần gũi còn hình thành các lĩnh vực chuyên môn liên ngành. Trong tình hình đó, sự tham gia của các chuyên gia thuộc các ngành khoa học lân cận sẽ góp phần đảm bảo chất lượng và tính phổ biến cho các thuật ngữ khoa học được chọn lọc hoặc xây dựng. Thuật ngữ gắn liền với từ và ngữ. Thành thử, các chuyên gia ngôn ngữ học rất đáng được hoan nghênh trong các hoạt động xây dựng thuật ngữ, góp phần làm cho các thuật ngữ được sử dụng thực sự trở thành thuật ngữ khoa học của người Việt Nam.
Do những nguyên nhân khác nhau, nếu nảy sinh sự bất đồng đối với một số thuật ngữ khoa học nào đó thì cũng là điều khó tránh khỏi. Trong những trường hợp đó, điều quan trọng là sự thiện chí, thực sự cầu thị, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhau, cùng nhau thảo luận trên tinh thần cởi mở, xây dựng để đi đến sự đồng thuận. Những biểu hiện cục bộ, cố chấp, thậm chí hiếu thắng, bài xích lẫn nhau đều không góp phần thực hiện thành công một nhiệm vụ cao cả, xứng đáng với đội ngũ trí thức khoa học nước nhà.








