Xây dựng hệ thống sản xuất thịt sạch từ trại chăn nuôi đến nơi tiêu thụ
1. Đẩy mạnh loại hình chăn nuôi gia công hoặc loại hình chăn nuôi vệ tinh tùy theo nguồn vốn của cơ sở chăn nuôi hoặc cơ sở chế biến chủ lực. Thông qua hai loại hình hoạt động này, quy trình chăn nuôi được áp dụng đồng bộ trên diện rộng và các hoạt động tư vấn chuyên môn được triển khai hữu hiệu hơn. Như thế, hộ chăn nuôi nhỏ vẫn có thể tồn tại nhưng nằm trong hệ thống quản lý chung; nhờ vậy, hộ chăn nuôi phải ghi chép các nguyên vật liệu đầu vào, năng suất và diễn biến dịch bệnh theo hệ thống sổ sách chung. Việc ghi chép dữ liệu để hạch toán kinh tế và để ngăn ngừa dịch bệnh vẫn là vấn đề chưa được giải quyết hiện nay trong điều kiện nước ta vẫn còn rất nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Mặc dù các câu lạc bộ chăn nuôi hoặc tổ liên kết đã được thành lập, hoạt động về mặt kinh tế (giải quyết các vấn đề cơ bản trong nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra) vẫn chưa đủ mạnh vì phần lớn sinh hoạt của các câu lạc bộ hoặc tổ liên kết tập trung vào việc trao đổi kinh nghiệm chuyên môn.
2. Phổ biến thông tin chi tiết hơn trong các biện pháp an toàn sinh học, bao gồm an toàn sinh học bên ngoài cơ sở chăn nuôi và an toàn sinh học nội bộ cơ sở chăn nuôi. Người chăn nuôi phải được huấn luyện cụ thể cách quản lý, cách vệ sinh và cách sử dụng mỗi loại công cụ (kể cả dụng cụ và phương tiện cơ giới) sao cho tránh lan truyền mầm bệnh hoặc tránh tạo cơ hội cho mầm bệnh phát triển tùy theo đặc điểm của từng loại mầm bệnh quan trọng. Mô hình thực hành chăn nuôi tốt (Việt GAHP) hoặc phong trào đăng ký cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh đã được khuyến khích áp dụng. Tuy nhiên, các mô hình này vẫn chưa đủ bảo vệ cơ sở chăn nuôi tránh khỏi mất mát do dịch bệnh nếu người chăn nuôi chưa được huấn luyện cụ thể và chưa vận dụng nghiêm ngặt tất cả các yêu cầu trong an toàn sinh học.
3. Quản lý chặt chẽ các điểm giết mổ và ngăn chận giết mổ lậu vẫn luôn là vấn đề quan trọng ảnh hưởng sự phát triển bền vững của chăn nuôi. Nếu các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nằm trong các công ty chăn nuôi gia công thì tình trạng giết mổ lậu có thể được giải quyết. Ngoài ra, nhà nước cần có các quy định kiểm soát liên ngành về hoạt động của thương lái thu mua thú giết thịt vì họ có thể rao bán các nguyên thực liệu cấm đến người chăn nuôi để ép giá mua thú thịt và tiếp tay cho giết mổ lậu.
4. Nhà nước và các cơ quan quản lý sớm có kế hoạch và biện pháp để giảm tình trạng mua đứt bán đoạn trong chăn nuôi thú giết thịt. Trong mua bán thú giết thịt hiện nay, người chăn nuôi, đặc biệt là người chăn nuôi nhỏ lẻ, không biết rõ ràng chất lượng sản phẩm chăn nuôi của mình ra sao. Họ chỉ biết nhận được tiền (giá trị sản phẩm chăn nuôi) từ thương lái mà không biết chính xác sản phẩm của họ có giá trị sử dụng ra sao (tỷ lệ nạc của quày thịt, phẩm chất thịt) và được cơ quan thú y (kiểm soát giết mổ) đóng dấu chất lượng thế nào, có bộ phận hoặc phủ tạng nào bị hủy bỏ hay không. Do đó, người chăn nuôi thiếu định hướng chính xác trong việc chỉnh sửa những gì cần thiết để sản phẩm chăn nuôi được tốt hơn, nghĩa là chăn nuôi hiệu quả hơn và bền vững hơn.
5. Ứng dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) và thông tin địa lý GIS trong quản lý địa bàn hoạt động chăn nuôi. Ứng dụng này bao gồm việc nhận diện địa điểm cơ sở chăn nuôi, vị trí của các điểm trung chuyển hoặc mua bán thú sống, các điểm bùng nổ dịch hoặc các điểm nguy cơ cao xảy ra dịch, các nguồn nước thải gây ô nhiểm, các chợ bán sỉ sản phẩm chăn nuôi. Từ đó, cập nhật thường xuyên diễn biến lây lan bệnh của các vùng này. Hiện nay, hệ thống GIS đã được ứng dụng bởi một số chi cục thú y (CCTY) như CCTY tỉnh Tiền Giang, Bến
Tre,…Tuy nhiên, ứng dụng này chưa được thực hiện đồng bộ bởi các tỉnh lận cận nên hiệu quả quản lý trong vùng chưa cao.
6. Xây dựng hệ thống truy tìm nguồn gốc sản phẩm. Đây là lãnh vực khó khăn, bao gồm việc theo dõi chặt chẽ nguồn xuất bán thú sống, xây dựng phòng xét nghiệm đủ năng lực và cán bộ có khả năng phân tích các yếu tố dịch tễ tại mỗi địa phương. Bên cạnh đó, các kỹ thuật nhân gen trong phòng thí nghiệm có chi phí cao nhưng rất hữu ích trong truy tìm nguồn gốc vi sinh vật gây bệnh. Do đó, các cấp quản lý dịch bệnh cần tính đến nguồn ngân sách dùng trong truy tìm nguồn gốc mầm bệnh cùng với truy suất nguồn gốc sản phẩm.
7. Bộ phận dịch tễ của các trung tâm thú y chịu trách nhiệm đánh giá các yếu tố nguy cơ của dịch bệnh bằng cách áp dụng các mô hình toán dựa trên số liệu thu thập một cách có hệ thống để đưa ra được các dự báo về diễn biến của những bệnh nguy hiểm. Điều này đã được áp dụng thường xuyên ở các nước tiên tiến nhưng vẫn còn rời rạc ở nước ta.
8. Vấn đề sau cùng cần được nhắc đến mặc dù đây không là vấn đề nhỏ, đó là giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong chăn nuôi thú y. Phương cách giáo dục đạo đức nghề nghiệp cần được thảo luận kỹ bởi các nhà quản lý giáo dục cũng như các cơ quan quản lý chuyên môn để nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp thật sự đi vào tâm não người hành nghề trong chăn nuôi thú y.








