Xây dựng bền vững quốc phòng, an ninh trên biển điều kiện quyết định thực hiện thành công chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Biển Đông được bao bọc bởi 9 quốc gia ven biển (Việt Nam, Trung Quốc, Philipines, Indonesia, Brunei, Malaixia, Singapore, Thái Lan và Campuchia). Nơi đây có tuyến vận tải biển lớn thứ hai thế giới (chỉ sau Địa Trung Hải) với hơn 50.000 tàu mỗi năm, vận chuyển ¼ thương mại toàn cầu. Biển Đông còn tiềm ẩn nhiều nguồn tài nguyên có giá trị, đặc biệt là dầu khí và nguồn năng lượng của tương lai (Băng cháy). Nếu kiểm soát được Biển Đông có kiểm soát được toàn bộ khu vực và có ảnh hưởng rất lớn đến an ninh thế giới. Ngoài ý nghĩa thương mại, các quần đảo xa bờ trong khu vực Biển Đông còn có thể làm căn cứ quân sự cho tàu nổi, tàu ngầm, máy bay để triển khai sử dụng sức mạnh trên biển, trên không; thu thập tình báo, giám sát hàng hải và đường không. Các vùng biển ở Trường Sa, Đông Hoàng Sa, Trường Sa có thể trở thành khu vực dừng chân quan trọng của tàu hải quân nhiều nước, là bàn đạp thuận lợi cho các lực lượng Hải quân hoạt động quân sự trong khu vực. Do vị trí chiến lược quan trọng như vậy, trên biển Đông hiện đang diễn ra những tranh chấp về chủ quyền hết sức phức tạp và quyết liệt, trên các diễn đàn song phương, đa phương, vừa hợp tác vừa đấu tranh. Tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông gồm 3 vấn đề chính, trong đó tranh chấp ở khu vực Quần đảo Trường Sa là phức tạp và gay gắt nhất.
Nằm trong khu vực Biển Đông, nước ta có vùng biển rộng trên 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền. Vùng biển của Việt Nam thông thương được với các vùng biển quốc tế, có các đảo, quần đảo xa bờ, gần. Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam. Trong những năm qua, nước ta đã kiên trì giải quyết các tranh chấp trên biển, đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, đã giành những kết quả nổi bật:
Thành tựu nổi bật nhất là kiềm chế được xung đột, giữ được lợi ích quốc gia dân tộc trên phương diện tổng thể, giữ được môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, tạo thế và lực cho quốc phòng an ninh trên biển. Đã thực hiện tốt đối sách trên biển, kiềm chế không để xung đột lan rộng khi có tình huống xảy ra, giữ vững được tương quan lực lượng trên tuyến đảo Trường Sa, củng cố được thế đứng trên thềm lục địa phía Nam.
Luôn kiên trì quan điểm củng cố quốc phòng - an ninh (QP - AN) trên biển, nhiều năm qua Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo củng cố nền quốc phòng toàn dân; giáo dục cho toàn dân về các quan điểm của Đảng và giá trị của biển, đảo trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác quản lý Nhà nước trên biển bước đầu có những tiến bộ đáng kể: Ban hành các quy định pháp luật về các lực lượng làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo; hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước CHXHCN Việt Nam: Tuyên bố của Chính phủ về các vùng biển (lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam), tuyên bố của Chính phủ về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải; tổ chức xây dựng Bộ luật Hàng hải, Luật Bảo vệ môi trường, LUật Dầu khí, Pháp lệnh Cảnh sát biển, Pháp lệnh về Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản…; phân công các lực lượng làm nhiệm vụ quản lý biển theo từng lĩnh vực chuyên ngành và phạm vi hoạt động theo từng khu vực biển; tổ chức phối hợp hoạt động các lực lượng làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biển như phát hiện, thông báo tình hình, tổ chức xua đuổi, vây bắt tàu thuyền xâm phạm chủ quyền và vi phạm pháp luật trên biển; xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật, nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác và bảo vệ dầu khí, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ và bảo vệ môi trường biển… Ban chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông - Hải đảo được kiện toàn; công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương gắn liền với quy hoạch và xây dựng các công trình phòng thủ; các đảo ven bờ đang được xây dựng, củng cố thế đứng và tạo thành thế phòng thủ vươn dần ra biển, việc tổ chức luyện tập phương án bảo vệ chủ quyền biển đảo có huy động lực lượng dân sự bước đầu có nền nếp.
Công tác xây dựng các lực lượng chuyên trách để quản lý Nhà nước và bảo vệ các vùng biển; triển khai bố trí lực lượng QP - AN ven biển và trên biển đã được quan tâm điều chỉnh, phát triển phù hợp với chiến lược vươn ra biển, tập trung cho các vùng biển trọng điểm và lực lượng chủ yếu (hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển)… Bước đầu đã động viên được nhân dân ra sản xuất, làm ăn ở các vùng biển xa bờ, đảo; tạo nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của nguồn lợi kinh tế biển và QP - AN đối với quốc gia. Với vai trò là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biển đảo, hải quân đã hiệp đồng với lực lượng phòng không - không quân, các quân khu ven biển, bộ đội biên phòng để đồng bộ mạng lưới thông tin tình hình, thống nhất phương pháp hoạt động khi có nhiều lực lượng tham gia.
Hệ thống hạ tầng ven biển: Đã hình thành được các trung tâm kinh tế biển ở các vùng biển với một số ngành công nghiệp phát triển gắn liền với biển, đặc biệt là công nghiệp đóng tàu và đội tàu vận tải.
Trên các hải đảo:Ngoài quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, nước ta có 10 huyện đảo và hàng chục xã đảo với hàng nghìn hòn đảo, trong đó có 72 đảo thường xuyên có dân sinh sống. Các đảo ven bờ và đảo lớn gần bờ đã được đầu tư nhiều hạng mục cơ bản phục vụ dân sinh và quốc phòng an ninh. Do vị trí đặc biệt, nhiều đảo trở thành các điểm mốc quốc gia trên biển, là cơ sở pháp lý quan trọng để thiết lập đường cơ sở, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của nước trên biển. Một số đảo ở các vị trí tiền tiêu quan trọng như: Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Côn Đảo, Phú Quốc, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa… trở thành căn cứ tiền đồn vững chắc để kiểm soát biển.
Về hệ thống thông tin liên lạc:Đến nay, toàn bộ vùng ven biển đã có điện thoại và được phủ sóng thông tin di động, các đảo ven bờ cũng đã hòa mạng với đất liền qua kênh vi ba làm giảm đáng kể sự ngăn cách giữa đảo và đất liền, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh vùng ven biển. Công tác bảo đảm an toàn hàng hải tàu thuyền luôn được chú trọng và ngày càng hoàn thiện. Hệ thống phao tiêu, biển báo, đèn hiệu các cửa sông, cửa biển được tu bổ thường xuyên.
Về công tác đối ngoại:Có chính sách đối ngoại độc lập tự chủ nhưng rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, thêm bạn bớt thù, tạo môi trường thuận lợi để nâng cao vị thế đất nước. Ta đã chủ động gia nhập ASEAN, phá vỡ thế bị cô lập, tìm được tiếng nói chung với các nước trong khu vực, tích cực tham gia các hội nghị cấp cao, diễn đàn an ninh. Hải quân Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của diễn đàn hội thảo hải quân các nước Tây Thái Bình Dương từ năm 1994, mở rộng quan hệ hợp tác kỹ thuật với hải quân các nước Nga, Ucraina, Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp, Australia. Để ổn định tình hình an ninh trật tự trên các vùng nước giáp ranh, lực lượng hải quân đã tiến hành tuần tra chung với hải quân Thái Lan từ 1999, với hải quân Campuchia từ 2005 và hải quân Trung Quốc từ năm 2006, đã thiết lập được kênh thông tin liên lạc với hải quân Philipine và đang xúc tiến lập kênh liên lạc, tuần tra chung với hải quân Malaysia, Indonesia. Quốc phòng an ninh trên hướng biển đã và đang gắn liền với phát triển kinh tế, là chỗ dựa tin cậy cho các hoạt động phát triển kinh tế biển.
Thực hiện các chương trình của Nhà nước về biển Đông và hải đảo:Bước đầu đã quy hoạch, xây dựng chương trình biển, đảo, nghiên cứu khảo sát và điều tra cơ bản đã mang lại hiệu quả thiết thực. Chương trình biển đông và hải đảo được triển khai ở các tuyến đảo, khu vực DK1, vùng biển Tây Nam như xây dựng công trình phòng thủ cho người, vũ khí, phương tiện, sân bay, bến cảng… phục vụ đời sống bộ đội và nhân dân, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền vùng biển của ta trên biển.
Quán triệt sâu sắc Nghị quyết TW4 khóa X về Chiến lược biển đến năm 2020, nội dung nhiệm vụ xây dựng môi trường bền vững về QP - AN trên biển cần được đặt ra như sau:
Giữ vững hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng cầu của Chiến lược QP - AN trên biển trong tình hình mới. Chúng ta chỉ có thể bảo vệ vững chắc và toàn vẹn chủ quyền vùng biển đảo của Tổ quốc khi giữ vững môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo; Duy trì nền hòa bình lâu dài và ổn định chính trị, không thể xảy ra đối đầu và xung đột vũ trang trên biển; ngăn chặn, đầy lùi mưu toan “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự, xâm hại chủ quyền, lấn chiếm các đảo, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế; Duy trì hoạt động thường xuyên của các lực lượng QP - AN và phát triển kinh tế trên biển.
Để khẳng định chủ quyền quốc gia trên các đảo, quần đảo và vùng biển rộng lớn của Tổ quốc, các lực lượng kinh tế biển và lực lượng QP - AN trên biển phải thường xuyên duy trì các hoạt động: Giao thông vận tải trên biển; Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản ven bờ và cả các vùng biển xa bờ; nghiên cứu, khảo sát, thăm dò và khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác; kiểm soát, giám sát và bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia, bảo vệ môi trường biển; phát hiện và ngăn chặn những hành động xâm phạm chủ quyền và an ninh quốc gia trên biển.
Ngăn chặn và đánh thắng mọi sự can thiệp vũ trang của các thế lực thù địch.Do đặc điểm khách quan về điều kiện địa - chính trị, địa - kinh tế và địa - quân sự, các thế lực thù địch luôn có tham vọng bành trướng, độc chiếm biển Đông và âm mưu can thiệp bằng quân sự phục vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Vì vậy, để bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển đảo của Tổ quốc, các lực lượng QP - AN trên biển phải đủ sức kiểm soát, phát hiện ngăn chặn mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, sẵn sàng sử dụng lực lượng đánh bại mọi sự can thiệp bằng quân sự trên biển và tiến công xâm lược từ hướng biển.
Quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường biển. Đây là nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược QP - AN trên biển. Bảo vệ nguồn tài nguyên biển và môi trường biển là nhằm bảo đảm sự phát triển kinh tế biển bền vững, chống lại các hành động khai thác làm cạn kiệt nguồn tài nguyên trên biển, làm ô nhiễm, suy thoái môi trường biển. Bảo vệ nguồn tài nguyên biển là bảo vệ nguồn dầu khí, hệ thống cảng biển và đường giao thông trên biển, các khu du lịch biển, nguồn lợi thủy hải sản và các loại tài nguyên khoáng sản như: than đá, than nâu, than bùn, cát thủy tinh, sa khoáng, muối và các hóa phẩm biển…








