WTO và chăn nuôi bò thịt: thách thức và cơ hội
Ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ bắt đầu đối diện trực tiếp với sự cạnh tranh đầy thách thức và cũng đầy cơ hội. Đặc biệt, ngành chăn nuôi bò của Việt Nam bắt đầu tham gia vào cuộc cạnh tranh, mà theo nhận định của nhiều chuyên gia, là không cân sức với ngành chăn nuôi bò thịt của Mỹ, ngành chăn nuôi bò thịt lớn nhất thế giới về năng suất, sản lượng, hệ thống tổ chức và khả năng xuất khẩu. Hằng năm, Mỹ xuất khẩu khoảng 1,4 – 1,5 triệu tấn thịt bò, tương đương với khoảng 5 – 6 tỷ USD, chiếm hơn 20% thị trường bò xuất khẩu trên thế giới. Trái ngược với sự lo lắng của người chăn nuôi bò và những người quản lý của Việt Nam , thì các nhà chăn nuôi bò thịt Mỹ đã đón nhận tin này một cách vui mừng. Ông Ed Blair, một nhà chăn nuôi bò thịt tại bang Nam Dakota và chủ tịch Uỷ ban thị trường quốc tế của Hiệp hội người chăn nuôi bò thịt quốc gia Mỹ - NCBA đã nhận định: thoả thuận ký kết giữa Việt Nam và Mỹ là một thắng lợi và xem Việt Nam như một thị trường đầy tiềm năng. Thực ra, khi gia nhập WTO, ngành chăn nuôi bò thịt Việt Nam không chỉ cạnh tranh với Mỹ mà còn nhiều nước khác như Australia, Canada và các nước Nam Mỹ như Brazil, Argentina. Trong năm 2004, do xuất khuẩn thịt bò của Mỹ và Canadabị ảnh hưởng của bệnh bò điên, Brazil đã vươn lên thành nước xuất khẩu thịt bò hàng đầu thế giới với kỷ lục 1,35 triệu tấn. Argentinacũng là nước xuất khẩu thịt bò đứng hàng thứ tư trên thế giới (sau Mỹ, Brazil, Australia ). Giá thịt bò tại Mỹ trung bình là 7,9 USD/kg nhưng khi xuất khẩu thì thường nhận được trợ cấp (gián tiếp hay trực tiếp) nên giá xuất khẩu có thể thấp. Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh của thịt bò Mỹ trên thị trường thế giới (và cả những loại nông sản khác cũng thường được nhận trợ cấp). Trong khi đó, giá thịt bò của các nước Nam Mỹ thì hết sức cạnh tranh, đặc biệt là đối với các nước nghèo. Tại Việt Nam, đã có một số công ty nhập thịt bò từ Nam Mỹ tiêu thụ tại Việt Nam với giá chưa thuế GTGT trung bình từ 63.000 – 78.000 đ/kg cho những loại thịt chất lượng cao (thịt thăn, filê…)
Đây là một bài toán hết sức phức tạp cho ngành chăn nuôi bò thịt Việt Nam vốn mang tính quy mô nhỏ lẻ, không tập trung, không chuyên nghiệp, năng suất thấp và không có hệ thống tổ chức. Trong những năm gần đây, chính phủ luôn có những biện pháp thúc đẩy và hỗ trợ ngành chăn nuôi bò thịt phát triển và đạt được những tiến bộ nhất định (tốc độ tăng đàn trung bình là 6,3% năm; sản lượng thịt bò tăng 8,8 % năm). Nhưng, theo nhận định của Cục Chăn nuôi trong báo cáo tổng kết chăn nuôi giai đoạn 2001 – 2005 thì 90% bò thịt được nuôi phân tán, quy mô nhỏ trong nông hộ, chăn thả tự nhiên, quảng canh tận dụng, thiếu đồng cỏ, thiếu thức ăn, quy trình chăn nuôi, vỗ béo còn lạc hậu… Như vậy, để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành chăn nuôi bò thịt thì cần phải tiến hành nhiều biện pháp và định hướng cụ thể, đặc biệt là xác định mục tiêu trước mắt là đáp ứng cho nhu cầu của thị trường nội địa và từng bước xuất khẩu cho các thị trường đặc biệt. Một trong những vấn đề cơ bản là phát triển ngành chăn nuôi bò thịt hàng hoá, tập trung với quy mô lớn mà hình thức chủ yếu là trang trại công nghiệp. Câu hỏi đặt ra là ta có đủ điều kiện (cơ chế chính sách về đất đai, thuế…) và nguồn lực (nhân lực nguồn vốn) để thực hiện không? Những trang trại chăn nuôi bò thịt công nghiệp thì quy mô ít nhất là 100 con, diện tích đất tối thiểu cũng phải trên 10 ha để có thể bố trí các đồng cỏ chăn thả luân phiên, đồng cỏ cao sản dùng để vỗ béo. Những khu vực có những cánh đồng cỏ chăn nuôi bò thịt theo yêu cầu như trên không phải dễ tìm. Những khu vực đạt yêu cầu trên là những tỉnh có nguồn quỹ đất còn nhiều như ở Tây Nguyên, Bình Phước và một số tỉnh Duyên Hải miền Trung. Nhưng những tỉnh này, thường thiếu nước tưới vào mùa khô, từ đó dẫn đến việc khan hiếm nguồn thức ăn. Bên cạnh đó, nguồn vốn cho chăn nuôi bò thịt thường rất cao. Một trang trại đầu tư 100 con bò thịt thì riêng nguồn vốn để mua con giống trung bình cũng phải 1 tỷ đồng, chưa kể nguồn vốn để đầu tư chuồng trại, đồng cỏ, thức ăn và quản lý. Để có nguồn vốn này, các trang trại phải vay vốn ngân hàng nhưng ít có ngân hàng nào dám cho trang trại vay số vốn lớn như vậy; nếu cho vay thì thời gian thường rất ngắn, không đủ thời gian quay vòng cho sản xuất. Việc tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi bò cũng mang tính đơn lẻ, tự phát và chịu sự chi phối của các thương lái tư nhân nên giá cả biến động và thường bị các thương lái ép giá. Về mặt kỹ thuật, giống bò hiện đang được sử dụng trong các trang trại chăn nuôi bò là giống Ta vàng (chiếm hơn 65% đàn bò) và bò lai Sind (30%). Các giống bò này thích nghi với điều kiện chăn nuôi địa phương nhưng năng suất kém và thường được khai thác thịt khi bò già, bò loại thải nên chất lượng thịt không đạt yêu cầu. Như vậy, nhà nước cần có những biện pháp chính sách cụ thể để giải quyết những tồn tại này. Đó là chưa kể trình độ an toàn thú y, vệ sinh thực phẩm của các sản phẩm thịt bò trong nước sản xuất còn rất thấp.
Định hướng ưu tiên phát triển các trang trại chăn nuôi bò thịt công nghiệp quy mô lớn theo Bộ Nông Nghiệp và PTNT sẽ rất khó khăn cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vốn chiếm hơn 90% số hộ chăn nuôi bò thịt. Nhưng nếu không cải thiện theo hướng sản xuất hàng hoá thì ngành chăn nuôi bò thịt Việt Nam sẽ không có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, chưa kể đến tị trường thế giới. Cần phải tổ chức gắn kết các trang trại nuôi bò thịt và cơ sở giết mổ chế biến. Các căn hộ chăn nuôi bò nhỏ, qui mô nông hộ cũng là lợi thế cạnh tranh (tận dụng được nguồn lao động nông thôn dư thừa, nguồn vốn của các hộ…) nếu được phát huy sẽ thành yếu tố lợi thế. Nhà nước cần từng bước tạo điều kiện cho các hộ này chuyển sang chăn nuôi chuyên nghiệp. Việc tổ chức các hộ này thành những hệ thống sản xuất phù hợp là điều kiện quan trọng nhất. Vận dụng mô hình của ngành chăn nuôi bò thịt bang Oklahoma (Mỹ), chúng ta có thể tổ chức các hộ chăn nuôi bò thịt thành các nhóm vệ tinh và liên kết với nhau trong hệ thống. Nhóm 1 bao gồm các hộ chăn nuôi nhỏ sản xuất bê lai đến 6 tháng tuổi. Các hộ này có bò cái lai Sindđược gieo tinh và nuôi bê lai đến 6 tháng tuổi, sau đó bán các bê lai này cho nhóm 2. Như vậy, để có sản phẩm tiêu thụ, hộ nông dân này chỉ mất một thời gian từ 16 tháng (chu kỳ đầu) đến 13 tháng (các chu kỳ kế tiếp). Số hộ này có thể bao gồm toàn bộ các hộ chăn nuôi bò trong khu vực. Nhóm 2: Các người chăn nuôi sản xuất bò lai đến khi vỗ béo (khoảng 18 tháng tuổi). Các hộ này mua bê lai 6 tháng tuổi từ các nhóm 1, sau đó nuôi dưỡng chăm sóc đến 18 tháng tuổi. Chukỳ quay vòng vốn nhóm này là 12 tháng. Các hộ chăn nuôi thuộc nhóm này đòi hỏi phải có bãi chăn thả. Nhóm 3: Các người chăn nuôi chuyên vỗ béo. Các hộ này mua bò lai từ 18 tháng tuổi, sau đó nuôi vỗ béo trong vòng 3 tháng để xuất thịt. Các hộ này đòi hỏi phải có chuồng trại, nguồn cung cấp thức ăn ổn định. Việc quay vòng đồng vốn nhanh chóng và người chăn nuôi quy mô nhỏ có thể tham gia tích cực vào hệ thống sản xuất bò thịt. Biện pháp này cũng có thể tiến hành dưới dạng Hợp tác xã. Các hộ xã viên nuôi bò thịt và cung cấo bò cho HTX vỗ béo và tiêu thụ. Nhà nước có thể hỗ trợ bằng các chương trình khuyến nông, nghiên cứu, đào tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng mà không vi phạm các thoả ước WTO.
Gia nhập WTO, thì đối tượng bị thiệt hại nhiều nhất vẫn là người nông dân, nhưng nếu tận dụng được những cơ hội một cách tốt nhất (như tiếp cận được các công nghệ, kỹ thuật mới tiên tiến, phương thức sản xuất hợp lý, con giống cao sản… từ các công ty nước ngoài đầu tư) và khai thác hợp lý những thế mạnh của mình thì hoàn toàn có thể giảm thiểu những thiệt hại và đạt được những thành công. Bên cạnh đó, Nhà nước vẫn có thể tài trợ cho các hộ chăn nuôi bò thịt trong nước bằng những biện pháp hợp lý, trong khuôn khổ cho phép của WTO ví dụ như những tài trợ cho chuyển giao kỹ thuật, đầu tư cơ sở hạ tầng… như đầu tư những đập nước, hồ chứa nước để cải tạo nguồn nước cho những vùng có thể phát triển đồng cỏ nuôi bò nhưng khó khăn về nguồn nước. Trung Quốc là một điển hình về việc chuyển những khó khăn trong ngành nông nghiệp (được đánh giá là sẽ suy sụp khi Trung Quốc gia nhập WTO) thành lợi thế và biến ngành kinh tế nông nghiệp Trung Quốc trở thành ngành kinh tế có sức cạnh tranh cao.








