Việt Nam đủ khả năng tạo động vật vô tính
"Mặc dù nền sinh học sinh sản Việt Nam chưa được đầu tư tương xứng, nhưng chúng ta đã có những kết quả nghiên cứu cập nhật các phòng thí nghiệm trên thế giới và đi trước một số nước trong khu vực"- TS Bùi Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nghị Công nghệ sinh học sinh sản châu Á lần thứ ba tổ chức tại Việt Nam đã khẳng định như vậy trên diễn đàn hội nghị.
Nhân bản vô tính được bắt đầu nghiên cứu ở nước ta vào năm 1999. Đến nay, Việt Nam đã nhân bản được giống lợn mini hoang dã sạch dòng. Quy trình nhân bản được thực hiện bằng cấy nhân tế bào sinh dưỡng của lợn vào trứng của lợn nuôi đã loại nhân. So với trứng bò, các thao tác loại nhân, gắn kết tế bào cho kết quả ổn định và cao hơn. Tỷ lệ trứng được loại nhân có thể đạt tới trên 90%, tỷ lệ tế bào được ghép và phân chia đạt trên 85%. Tỷ lệ phôi nhân bản phát triển thành phôi nang vào ngày thứ 7 là 12%.
Với sự hợp tác của các tổ chức chăn nuôi và nghiên cứu khỉ tại Việt Nam, Mỹ, Xingapo, các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ sinh học (Viện KH&CN Việt Nam) cũng đã nhân bản vô tính được trên khỉ vàng, khỉ đuôi dài và đã tạo được khỉ có thai, mặc dù thai này mới chỉ phát triển đến tháng thứ 3.
Theo TS Bùi Xuân Nguyên, phòng Công nghệ Phôi, Viện Công nghệ sinh học, tới thời điểm này, những nghiên cứu về sinh sản vô tính ở nước ta cũng mới chỉ dừng lại ở phôi, chưa có con thành phẩm. Quá trình chuyển từ phôi thành con phải cần rất nhiều công đoạn nghiên cứu, đặc biệt là con mẹ nhận phôi. Ví dụ như đối với sao la, muốn có sao la thành phẩm ta phải nghiên cứu trên rất nhiều các loại khác như bò, lợn, cừu... để xem con nào có khả năng để nhận phôi. Kinh phí và các trang thiết bị để nghiên cứu vấn đề này rất lớn và chúng ta chưa có điều kiện thực hiện.
Tuy nhiên, theo dự báo của nhiều nhà khoa học, từ nay đến năm 2020, chúng ta sẽ sản xuất bò giống thương phẩm từ phôi bò sữa cao sản với quy mô 500000 phôi/năm.
Việt Nam có sáu báo cáo tại Hội nghị Công nghệ sinh học sinh sản châu Á lần thứ ba. Trong đó có bốn báo cáo của các chuyên gia Việt Nam đang công tác tại nước ngoài. Đáng chú ý là báo cáo của TS Nguyễn Văn Thuận (công tác tại Viện Riken - Nhật Bản) về cơ chế phiên mã trong phôi nhân bản vô tính; báo cáo của TS Phan Toàn Thắng (công tác tại Xingapo) về tế bào gốc màng dây rốn, là công trình vừa đăng ký bản quyền tại Mỹ; báo cáo của TS Nguyễn Việt Tiến về thụ tinh ống nghiệm và điều trị vô sinh. TS Bùi Xuân Nguyên báo cáo về các mô hình công nghệ sinh sản có tiềm năng trong nghiên cứu và điều trị y sinh (bảo vệ đa dạng sinh học, nghiên cứu HIV, ung thư).
Nguồn KH&ĐS Số 97 Thứ Hai 4/12/2006








