Viện nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I - Người bạn tin cậy của bà con nông ngư dân
Thời kỳ mới mang tên Viện, do đặc thù của nước ta đang trong quá trình chuyển dần từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế quản lý mới, Viện gặp phải nhiều khó khăn, lúng túng trong xác định hướng đi. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Viện do trải qua thời kỳ chiến tranh kéo dài, không được đầu tư xây dựng, sửa chữa nên xuống cấp trầm trọng: bờ ao, mương cấp và tiêu nước, trạm bơm, nhà làm việc, nhà ở... bị hư hại nhiều. Thiết bị thí nghiệm cũ kỹ, lạc hậu và thiếu thốn. Các phương tiện trợ giúp điều tra, nghiên cứu quá nghèo nàn. Kinh phí được cấp hạn hẹp, không kịp thời vụ, bị động và thiếu thốn, gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu. Tư tưởng một bộ phận cán bộ công nhân viên không nhất quán, dao động, thiếu ý chí phấn đấu. Nguồn đào tạo nhân lực khoa học kỹ thuật đầu đàn trước đây dựa vào Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu nay không còn nữa, tuổi đời bình quân cán bộ khoa học của Viện đã hơn 45. Vấn đề đào tạo nhân lực được đặt ra cấp bách nhưng không biết tìm đâu nguồn vốn. Ðời sống của cán bộ công nhân viên nói chung và cán bộ nghiên cứu khoa học có nhiều khó khăn.
Trước tình thế đó, các cán bộ, đảng viên của Viện đã có những suy nghĩ, trăn trở tìm hướng đi đúng cho Viện, phù hợp với quá trình đổi mới của đất nước. Ðược sự quan tâm giúp đỡ của Bộ Thuỷ sản và các cơ quan nhà nước khác, ban lãnh đạo Viện đã động viên tinh thần cán bộ công nhân viên, kêu gọi sự đoàn kết nhất trí trong Viện, góp sức cùng đưa Viện thoát khỏi bế tắc và tìm hướng phát triển. Bước ngoặt phát triển của Viện bắt đầu vào những năm cuối thập niên 80. Năm 1988, Viện được Nhà nước giao thực hiện Dự án UNDP/FAO-VIE 86-001. Dự án đã giúp Viện tạo được điều kiện về mọi mặt để tiến lên, mở ra thời kỳ phát triển mới của Viện. Từ bước đệm này, Viện đã xây dựng được chiến lược phát triển trong thập niên cuối thế kỷ XX và đã thực thiện thành công. Ðó là: Xây dựng Viện thành một cơ quan đa chức năng, lấy nghiên cứu khoa học công nghệ làm trọng tâm, phát triển 3 chức năng nghiên cứu, khuyến ngư, đào tạo gắn kết với nhau; mở rộng hoạt động của Viện từ thuần tuý nước ngọt nội địa ra vùng nước lợ ven biển và cả nuôi hải sản trên biển; đưa các hoạt động của Viện tới các địa phương một cách rộng rãi, đặc biệt chú ý đến miền núi, vùng khu 4 cũ, vùng duyên hải, các tỉnh còn gặp nhiều khó khăn; tranh thủ sự đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước; coi trọng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế thông qua các dự án, đưa Viện trở thành một trung tâm nghiên cứu khoa học không những của nước ta mà còn ảnh hưởng tới cả khu vực.
Khi đã xác định rõ mục tiêu chiến lược và tìm ra bước đi phù hợp, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã liên tục phát triển, trở thành trung tâm nghiên cứu thuỷ sản lớn của nước ta. Trong công tác nghiên cứu khoa học, Viện đã đạt được nhiều thành tựu mà các công trình được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực di truyền chọn giống cá. Viện đã tiến hành chọn giống cá chép, cá rô phi đạt kết quả tốt. Cá chép chọn giống đã được nuôi rộng rãi, được người nuôi tín nhiệm và được đánh giá cao ở các nước châu Á nhưAâsn Ðộ, Bănglađet, Thái Lan, Lào. Cá rô phi mới, chất lượng cao, cũng đã được phát triển nuôi ở nhiều địa phương. Viện đã nghiên cứu công nghệ di truyền tạo cá rô phi siêu đực và công nghệ dùng hoóc môn để tạo cá rô phi toàn đực cung cấp cho người nuôi để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Công nghệ mẫu sinh và chuyển đổi giới tính đã được nghiên cứu thành công đối với cá mè Vinh. Viện cũng đã di giống thuần hoá thành công nhóm cá chép Ấn Ðộ, làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu sản lượng cá nuôi nước ngọt, tăng năng suất và chất lượng đàn cá nuôi. Bước đầu, Viện đã cho sinh sản nhân tạo được một số loài cá quý hiếm hoang dã như cá bỗng, cá lăng nhằm gia hoá chúng thành những đối tượng nuôi giá trị cao chuyển giao cho nông dân nuôi và cũng góp phần bảo vệ chúng trong tự nhiên. Viện còn là nơi được Nhà nước giao nhiệm vụ thường xuyên có tầm quan trọng quốc gia là lưu giữ nguồn gen giống thuỷ sản nước ngọt. Vừa qua, cụm đề tài về nâng cao chất lượng giống cá nuôi của Viện đã được Bộ Thuỷ sản đề nghị Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Trong các năm qua, Viện đã nghiên cứu phát triển có kết quả các công nghệ về nuôi như: kỹ thuật nuôi cá - lúa, các mô hình nuôi cá kết hợp sản xuất nông nghiệp (VAC), nuôi cá thương phẩm và ương cá giống bằng lồng trên hồ chứa, trên biển, nuôi tôm sú bán thâm canh, nuôi cá rô phi cao sản. Viện tiến hành điều tra môi trường sinh thái và kinh tế xã hội ở các tỉnh, qua đó xác định cơ cấu nuôi trồng thuỷ sản hợp lý, giúp các tỉnh xây dựng chiến lược dài hạn và trung hạn. Về bệnh thuỷ sản, Viện đã có nhiều công trình điều tra khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt, phương pháp phòng trị một số bệnh ký sinh, vi sinh... Hiện nay Viện đang tiến hành nghiên cứu các đề tài phục vụ cho Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản của ngành như : nghiên cứu nuôi tôm sú luân canh với các đối tượng khác để tránh ô nhiễm môi trường, nuôi lồng các loài cá biển có giá trị kinh tế cao, nuôi cá chình công nghiệp xuất khẩu, cá chim trắng nước ngọt, nuôi thử cá ba sa ở miền Bắc...Dựa vào thành tựu nghiên cứu đã đạt được và một số dự án quốc tế, Viện đã xây dựng mạng lưới khuyến ngư rộng rãi, thành lập 4 trung tâm vùng, 24 trạm trại trình diễn, 12 cụm VAC. Viện trực tiếp đào tạo bồi dưỡng cho gần 400 khuyến ngư viên cấp tỉnh, huyện, chuyển giao kỹ thuật cho bà con bằng tạo mô hình, tập huấn ngắn hạn, tập huấn đầu bờ... cho hơn 7000 khuyến ngư viên cấp xã và bà con nông dân. Viện đã đặc biệt chú trọng tới việc phát triển sản xuất thuỷ sản ở các vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn miền núi. Hàng năm, qua mối quan hệ hợp tác của mình, Viện cũng đã tạo điều kiện cho hàng trăm lượt cán bộ thuỷ sản ở các tỉnh tham quan học tập nghề nuôi ở các nước trong khu vực.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của lực lượng nghiên cứu viên của Viện, đồng thời biết được tình trạng thiếu cán bộ về nuôi trồng thuỷ sản, nhất là ở các tỉnh phía Bắc, Viện đã liên kết với Học viện Công nghệ Châu Á (AIT) giúp đỡ đào tạo kỹ sư nuôi trồng thuỷ sản cho các tỉnh phía Bắc. Ðến nay đã tuyển sinh đào tạo 6 khoá với 150 sinh viên. Viện cũng tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế để cử cán bộ đào tạo dài hạn và ngắn hạn ở nước ngoài. Qua các hình thức đào tạo này, trong hơn 10 năm, Viện đã có thêm 3 tiến sĩ, 17 thạc sĩ, hiện đang gửi 3 cán bộ làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài, 1 nghiên cứu sinh trong nước. Hàng năm Viện đều cử 3-5 cán bộ đi đào tạo thạc sĩ ở trong và ngoài nước.
Phải khẳng định rằng, công tác nghiên cứu của Viện đã đạt nhiều kết quả tốt, chuyển giao thành nghề cho bà con nông dân, ngư dân. Nhờ sự đầu tư của Nhà nước, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, tới nay Viện đã có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị nghiên cứu hiện đại phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học. Viện cũng đã xây dựng được 2 trạm nghiên cứu thực nghiệm ở Vĩnh Phúc và Nghệ An, đang hoàn thiện lắp đặt các thiết bị hiện đại cho các phòng nghiên cứu di truyền, môi trường và bệnh cá để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu trong thời kỳ mới. Trong các năm từ 1988-1996, Viện đã thực hiện có kết quả 2 pha Dự án UNDP/FAO và đang thực hiện Dự án phát triển thuỷ sản miền núi do UNDP tài trợ. Các Dự án của AIT về nghiên cứu và đào tạo, của Na Uy về tăng cường năng lực nghiên cứu và đào tạo cũng đang được triển khai thuận lợi. Quan hệ của Viện với các tổ chức quốc tế ngày càng mở rộng và hợp tác chặt chẽ. Qua quá trình thực hiện các dự án, chuyển giao công nghệ cho bà con, đã gây được lòng tin của bà con đối với Viện, quan hệ giữa Viện với các tỉnh, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc ngày càng khăng khít.
Từ năm 1986 trở lại đây, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước: Huân chương Lao động hạng hai (1992), Huân chương Lao động hạng nhất (1998), Cờ luân lưu của Chính phủ, Bằng khen của Bộ Thuỷ sản, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, tỉnh Bắc Ninh... Hiện nay, Viện đang được Nhà nước xét duyệt phong tặng danh hiệu Ðơn vị Anh hùng Lao động.
Nguồn: mofi.gov.vn








