Vị thuốc từ quả quýt
Quả quýt non, quả quýt chín (quýt bì, quýt hồng, quýt bạch), lớp gân bên trong vỏ quả (quýt lạc), hạt quýt (quýt hạch) đều được dùng làm thuốc.
Thời gian thu hoạch quýt vào hạ tuần tháng 10, có thể chế biến thành nước ép quýt, quýt đóng hộp…
Tác dụng: khai vị điều khí, nhuận phế, chữa khát. Chủ yếu dùng cho kết khí hoành cách mô ngực, buồn nôn, chữa khát, tì vị bất hoà, giải rượu v.v…
Cách dùng: Ăn sống, nấu hay chế biến để ăn. Người bị ho ra đờm do nhiễm lạnh không nên ăn.
Chữa trị:
Mất nước, khai vị, trừ khí hoành cách mô: quýt 3-5 quả, nướng trên lửa cho hơi cháy vỏ, bóc vỏ ăn múi, ăn sống một quả quýt sau khi ăn cơm.
Đau dạ dày do lạnh: Gân quýt 3g, gừng tươi 6g. Sau khi sắc lấy nước thêm đường đỏ lượng vừa đủ, uống nóng.
Viêm dạ dày mạn tính: Vỏ quýt khô 30g. Sao vàng tán mịn, mỗi lần 6g, thêm đường trắng lượng vừa đủ, ngày uống ba lần, trước bữa cơm, uống với nước.
Nôn mửa do dạ dày nhiễm lạnh: Vỏ quýt 200g, gừng tươi 50g, xuyên tiêu 10g. Sắc lấy nước uống.
Cảm: Vỏ quýt tươi 30g (khô 15g) gừng ba lát. Sau khi sắc lấy nước thêm lượng đường trắng vừa đủ, uống nóng.
Ho nhiều đờm: Vỏ quýt, gừng tươi, lá cây tía tô 6g. Sau khi sắc lấy nước, thêm lượng đường đỏ vừa đủ, uống mỗi ngày 2-3 lần. Hoặc vỏ quýt 9g, đào nhân một quả (giã nát), gừng tươi 3 lát. Sắc lấy nước uống.
Ho khan: Mỗi ngày ăn 3-6 quả, chia làm nhiều lần. Hoặc uống nước ép quýt từ 30-50ml.
Đau lưng: Hạt quýt, đỗ trọng, mỗi loại 60g. Sao vàng nghiền nhỏ, mỗi lần uống 6g, ngày 2-3 lần.
Viêm tuyến sữa: Hạt quýt nghiền nhỏ, hoà với rượu trắng, đắp vào chỗ đau, ngày thay thuốc 3-5 lần; hạt quýt tươi 30g, rượu vàng (hoàng tửu) vừa đủ, cho vào nồi sao, thêm ba bát nước, sắc còn một bát, chia làm 2 lần, uống. Trần bì 20g, cam thảo 5g. Sắc lấy nước uống, mỗi ngày một đến 2 lần.








