Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 06/12/2011 21:29 (GMT+7)

Về quản lý đô thị trong giai đoạn đô thị hóa hiện nay

1. Một số đặc điểm của đất đô thị

Đô thị là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của một vùng lãnh thổ. Đất đô thị có vai trò rất quan trọng và là điều kiện vật chất cơ bản không thể thiếu được cho phát triển đô thị. Đất đô thị được sử dụng vào những mục đích khác nhau, việc sử dụng đất hợp lý có tác động trực tiếp đến sự phát triển đô thị. Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển kinh tế là quá trình gia tăng dân số và đô thị hoá, nhu cầu đất đai cho phát triển đô thị của Hà Nội cũng như nhiều thành phố khác trên cả nước ngày càng trở nên bức thiết. Để khai thác, sử dụng đất đô thị một cách hiệu quả, phục vụ cho mục đích phát triển KT-XH bền vững của đô thị, công tác QLNN về đất đô thị cần đi đôi với quản lý nhà ở và công trình hạ tầng đô thị.

Đất đô thị có tác động rất lớn, thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển đô thị.Nó là yếu tố cấu thành thực thể KT-XH đô thị, nơi tập trung đông dân cư, công trình kiến trúc dầy đặc. Các nhu cầu về ăn, ở, mặc, học hành, việc làm, đi lại của dân cư đô thị cần phải được diễn ra trên những mặt bằng nhất định. Các đơn vị kinh tế của đô thị sử dụng chung hệ thống hạ tầng kĩ thuật công cộng do sản xuất tích tụ cao. Vì vậy, vai trò QLNN của chính quyền là làm sao cho đất đô thị được sử dụng hợp lý để có thể phát huy tác dụng thúc đẩy phát triển KT-XH đô thị. Nếu quản lý không tốt, sử dụng đất đô thị không hợp lý sẽ cản trở việc phát triển KT-XH. Khi quỹ đất đô thị không đủ so với quy mô, tốc độ của sự phát triển kinh tế thì các nhà quản lý phải mở rộng đô thị. Nếu hạn chế việc mở rộng đô thị sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế đô thị. Tuy nhiên, nếu quyết định mở rộng quá sớm thì sẽ gây lãng phí trong quản lý.

Đất đô thị có tác động lớn tới sự chuyển dịch cơ cấu của kinh tế đô thị, do đó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế đô thị. Các loại đất sử dụng tại đô thị là một chỉnh thể hữu cơ có quan hệ tỉ lệ nhất định; tỉ lệ không cân đối sẽ gây ra sự không ăn khớp giữa các chức năng đô thị, từ đó cản trở sự phát triển của kinh tế. Đất đô thị khi được sử dụng hợp lý sẽ có thể nâng cao hiệu quả kinh tế của toàn bộ đô thị. Một số nghiên cứu đã cho thấy, đất được sử dụng cho công nghiệp được bố trí hợp lý có thể tiết kiệm 10-20% đất sử dụng của đô thị; đất sử dụng cho giao thông nếu bố trí hợp lý sẽ tiết kiệm được 20-40% chi phí cho giao thông. Nhìn chung, kết cấu và tỉ lệ các loại đất sử dụng của đô thị có mối tương quan với sự bố cục và tỉ lệ giữa các ngành kinh tế đô thị. Sự phát triển của kinh tế thường đi liền với sự biến động của cơ cấu kinh tế đô thị. Kết cấu đất đô thị không thay đổi hoặc thay đổi không hợp lý sẽ cản trở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gây tác động tiêu cực đến sự phát triển của đô thị. Do đó, vai trò QLNN của chính quyền là nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học, để có thể xây dựng cho mình những quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đô thị hợp lý cho phát triển KT-XH đô thị, tạo được sự hài hoà giữa các bộ phận khác nhau của đô thị, coi đô thị như một cơ thể sống, có sự thống nhất giữa các chinh thể.

Đất đô thị ảnh đến hiệu quảsảnxuất- kinh doanh của doanh nghiệp.Đất đô thị là một trong những yếu tố cấu thành nên giá trị đầu vào đối với từng đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp. Sự khác biệt về vị trí của đất đai, hạ tầng kĩ thuật tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Nói chung, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tình hình sử dụng đất đô thị nơi doanh nghiệp đóng. Trong không gian xác định của đô thị thường tập trung một lượng lớn các doanh nghiệp công nghiệp, phải dựa vào các loại nguyên vật liệu do bên ngoài cung cấp, cự ly từ doanh nghiệp đến nơi cung ứng nguyên vật liệu là vô cùng quan trọng, cự ly ngắn giá thành thấp và ngược lại. Một vị trí tốt sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp tập trung được các loại nguyên vật liệu cần thiết cũng như phân phối sản phẩm với chi phí tương đối thấp. Mặt khác, trên lĩnh vực không gian hữu hạn của đô thị, tập trung một lượng lớn dân số và hoạt động kinh tế, tồn tại một hệ thống đồng bộ các ngành nghề. Việc giảm giá thành vận tải là một trong những nhu cầu cần thiết của doanh nghiệp. Hơn nữa, đô thị là một thị trường lớn, doanh nghiệp có thể thông qua việc khai thác đầy đủ thị trường để hạ giá thành tiêu thụ sản phẩm. Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Chính sách QLNN về đất đô thị tốt sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận đất đai cũng như khuyến khích sử dụng các nguồn vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng, giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất - kinh doanh, từ đó có thể hạ giá thành và tăng giá trị cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.

Đất đô thị là nơi tập trung dân cư và các trung tâm chính trị- kinh tế.Đất đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc, các công trình văn hoá, lịch sử, trung tâm thương mại, hành chính, chính trị, ngoại giao.. .của một vùng, quốc gia. Vai trò của chính quyền trong QLNN về đất đô thị là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể tiếp cận và thực hiện đầy đủ các quyền của họ được Nhà nước quy định trong sử dụng đất đai, các tổ chức có thể thuận lợi sử dụng đất trong các hoạt động của mình. Quản lý đất đai cần đi đôi với quản lý và giữ gìn bảo vệ cảnh quan môi trường, di tích lịch sử, văn hoá tạo ra một không gian đô thị lành mạnh cho cuộc sống của cư dân đô thị, một hình ảnh đẹp về sự phát triển không gian. Chính sách sử dụng đất đai, trình độ phát triển kinh tế có tác động rất lớn đến không gian kiến trúc đô thị, ví dụ như nhà ống là kết quả của nền kinh tế buôn bán nhỏ, của hạn mức sử dụng đất ở thấp từ những năm trước đây. Đảm bảo cho đất đô thị, một nguồn tài nguyên, tài sản quý hiếm nhất được sử dụng một cách hiệu quả và công bằng trên cả phương diện lợi ích tư nhân và lợi ích cộng đồng, hạn chế các yếu tố độc quyền và sự đầu cơ đất đai; tình trạng khai thác cạn kiệt và hủy hoại đất; hay sự chiếm hữu các giá trị gia tăng của đất nhờ lý do khách quan là trách nhiệm của các cơ quan QLNN.

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất đô thị trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, thống nhất QLNN về đất đô thị trên phạm vi lãnh thổ, có sự phân cấp quản lý cụ thể.

Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và phát huy tối đa các quyền đối với đất đai. Vì có như vậy người sử dụng đất mới yên tâm đầu tư sản xuất trên đất đai, cũng như có ý thức trong sử dụng, tránh hiện tượng khai thác kiệt quệ tài nguyên đất. Chính quyền các cấp đại diện cho Nhà nước thực hiện việc giao và cho thuê đất, có trách nhiệm kiểm tra, giám sát yêu cầu các đơn vị cá nhân sử dụng đất đô thị phải xây dựng hạ tầng; đất đô thị dùng để xây dựng nhà ở các công trình công cộng, các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, trụ sở các cơ quan, tổ chức phải đúng mục đích sử dụng, phù hợp với quy hoạch đô thị được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; đất đô thị sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, nông nghiệp phải tuân thủ theo các quy định về bảo vệ môi trường, mĩ quan đô thị và phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị.

Thứ hai, đất đô thị phải được sử dụng theo đúng mục đích và chức năng của quy hoạch, kế hoạch đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Nhà nước giao cho các tổ chức sử dụng đất đô thị vào mục đích công cộng phải tuân thủ theo quy hoạch và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của tổ chức. Muốn thay đổi chức năng, mục đích sử dụng hoặc chủ sử dụng phải được phép của cơ quan có thẩm quyền. Chính quyền các cấp có trách nhiệm quản lý quỹ đất chưa sử dụng của đô thị. Việc quản lý tốt quỹ đất này giúp cho đô thị phát triển theo đúng định hướng phát triển của địa phương, quốc gia, đảm bảo sự hài hoà giữa các vùng và quốc gia.

Thứ ba, đấtđô thị phải được sử dụng theo hướng đảm bảo hài hoà các lợi ích.

Đó là mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và tập thể, lợi ích cộng đồng và xã hội. Mọi tổ chức hoặc cá nhân đều cần có đất đai để sống, làm việc, đi lại, vui chơi giải trí.. .Mặt khác, đất đai là tài sản quốc gia nên nó phản ánh lợi ích chung của xã hội. Các cấp chính quyền cần kết hợp hài hoà ba lợi ích đó là: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích của xã hôi bằng cách thiết lập các chiến lược phát triển KT-XH phù hợp với các quy luật phát triển; xây dựng các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất một cách hợp lý; thực hiện tốt các nhu cấu về kinh tế đối với đất đô thị (thuế đất, các chính sách khuyến khích và hạn chế về tài chính); sử dụng linh hoạt các phương pháp quản lý đồng thời thực hiện tốt công cụ pháp luật trong quản lý đất đô thị.

Thứ tư, thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng.

Giải phóng mặt bằng luôn là vấn đề phức tạp, khó khăn nhất trong quá trình đô thị hoá, quá trình phát triển, chỉnh trang đô thị. Rất nhiều công trình, dự án, nhất là các công trình, dự án ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, chi phí cho đền bù, giải phóng mặt bằng chiếm phấn lớn giá trị công trình. Việc giải phóng mặt bằng còn dây dưa, kéo dài, không đúng tiến độ, càng làm cho chi phí dự án tăng cao. Để công tác giải phóng mặt bằng phục vụ mục tiêu phát triển đô thị cần thực hiện đồng bộ các giải pháp:

- Hoàn thiện chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng theo hướng hài hoà lợi ích của Nhà nước và người dân; đảm bảo tính nhất quán, tính công bằng trong nội dung các chính sách đối với các đối tượng bị điều chỉnh.

- Chính quyền địa phương cần phối hợp nỗ lực của các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện quyết liệt, dứt điểm công tác giả phóng mặt bằng, không để tình trạng "cổ chai", "nút thắt" tồn tại trên các công trình, dự án trị giá hàng nghìn tỉ đồng.

- Nghiên cứu, áp dụng cách thức giải phóng mặt bằng rộng hơn quy mô cần thiết để có quỹ đất sắp xếp chỉnh trang mặt phố và tái định cư tại chỗ cho người dân như TP. Đà Nẵng đã và đang áp dụng.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.