Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 21/07/2011 20:41 (GMT+7)

Vấn đề lựa chọn và áp dụng tập quán để bảo đảm quyền con người cho cộng đồng các dân tộc thiểu số

I. Khái quát về các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người của cộng đồng dân tộc thiểu số

Trong thế giới, quyền con người của các cộng đồng dân tộc thiểu số ít nhiều được bảo đảm bằng những hiệp ước song phương hoặc đa phương. Từ năm 1945, Hiến chương Liên hợp quốc đã tuyên bố về việc bảo vệ quyền con người và tôn trọng quyền tự do cơ bản của tất cả mọi người. Năm 1948, tại Pháp, Liên hợp quốc đã công bố bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, trong đó Điều 29 khẳng định nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng để đảm bảo các cá nhân đối với cộng đồng để đảm bảo các quyền cơ bản ghi trong Tuyên ngôn và Điều 30 khẳng định các quyền tự do, bình đẳng của con người trong các cộng đồng dân tộc.

Bên cạnh đó, các điều ước quốc tế cũng đề cao việc bảo vệ văn hóa của các nhóm thiểu số. Một mặt, các công ước khẳng định quyền của các dân tộc thiểu số về tập quán cũng như truyền thống văn hóa, mặt khác cũng kêu gọi sự bảo tồn văn hóa của các dân tộc, tôn trọng tập quán và ở mức độ nhất định, áp dụng tập quán trong quá trình xét xử. Điều 6 Công ước về các dân tộc bản địa và bộ lạc ILO 169 (Indigenous and Tribal Peoples Convention 1989, No.169) quy định: "Phải xem xét đến tập quán và luật tập quán trong quá trình áp dụng pháp luật và quy định của Nhà nước".

Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát triển văn hóa của các đồng bào dân tộc là một điều hoàn toàn không đơn giản. Và con khó khăn hơn khi đưa tập quán trở thành một nguồn luật chính thức trong hệ thống pháp luật quốc gia nhằm bảo vệ quyền con người trong cộng đồng thiểu số. Bởi lẽ quyền con người là vấn đề mang tính chính trị - pháp lý không chỉ ở phạm vi pháp luật và quan hệ quốc tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải cách và pháp triển pháp luật ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ví dụ, một số quốc gia như Úc, Mỹ trong quá trình cải cách pháp luật những năm 70 của thế kỷ trước đã hình thành những bộ luật riêng cho cộng đồng thiểu số, như: Đạo luật chống phân biệt sắc tộc của Úc năm 1975; Đạo luật về quyền sử dụng đất đai của người bản xứ cho các ngành nghề truyền thống của vùng lãnh thổ Bắc nước Úc; Đạo luật về việc bảo vệ nơi chôn cất, thờ cúng và di sản văn hóa cho thổ dân của Mỹ năm 1990 v.v.

Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các vấn đề chính trị - pháp lý liên quan đến quyền con người thông qua các công cụ pháp lý. Nếu nói rằng hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật có ảnh hưởng sâu sắc đến quyền con người thì ngược lại, ảnh hưởng của quyền con người cũng thể hiện rất rõ trong các hình thức pháp lý. Điều này cũng có thể hiểu được tại sao các quốc gia châu Á đưa ra luận cứ "giá trị châu Á" ( Asian Values) trong khi bàn về vấn đề quyền con người, nhưng thật ra, hầu hết các quốc gia trên thế giới khi xây dựng Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước, đều đưa vào đó những tiêu chuẩn cơ bản của quyền con người.

Phải thừa nhận rằng các công ước quốc tế về quyền con người có tầm ảnh hưởng nhất định đến quá trình lập pháp của quốc gia. Các tiêu chí như quyền con người cho tất cả mọi người, mọi quốc gia hay quyền về văn hóa đều được các quốc gia thể hiện bằng cách này hay cách khác, bằng hình thức này hay hình thức khác. Tuy nhiên, mọi vấn đề đều có hai mặt.

Việc công nhận và áp dụng tập quán pháp có thể gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến việc bảo vệ quyền con người. Vấn đề này cần phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc và thấu đáo.

II. Những ảnh hưởng của tập quán pháp đối với quyền con người

1. Ảnh hưởng tích cực của tập quán pháp đối với quyền con người

Thước đo mức độ bảo vệ quyền con người thể hiện qua việc thực hiện các cam kết quốc tế song phương cũng như đa phương; hoặc thông qua các hiệp ước mang tính chất khu vực hay các tiền lệ hình thành từ các tòa án khu vực liên kết và thông qua hoạt động tư pháp, xét xử của từng quốc gia. Nói cách khác, việc thực hiện cũng như thể hiện quyền con người thường thông qua các hình thức pháp lý của mỗi quốc gia. Ảnh hưởng của quyền con người trong các hình thức pháp lý có thể được thể hiện theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Trong việc bảo vệ những quyền cơ bản của con người, cần công nhận việc áp dụng tập quán pháp. Tuy nhiên, việc công nhận này đôi khi cũng mâu thuẫn với trách nhiệm của nhà nước. Hơn nữa, hệ thống các quy phạm được áp dụng thường mang nặng yếu tố dân tộc, tôn giáo, địa phương. Chúng thiết lập nên những tiêu chuẩn khác nhau cho các chủ thể trên cùng một vấn đề có cùng nội dung và tính chất. Hậu quả của việc này là việc phân biệt đối xử giữa các chủ thể và sự bất bình đẳng của pháp luật.

Đầu tiên, có thể thấy rằng quyền con người có ảnh hưởng tích cực trong việc công nhận và áp dụng tập quán pháp vì:

Thứ nhất, quyền con người đòi hỏi việc áp dụng tập quán pháp như một trong những tiêu chuẩn đáp ứng về quyền con người. Ví dụ, ở Papua New Guinea , việc công nhận tập quán của người thiểu số với mục đích chính là góp phần tạo ra sự cân bằng trong xã hội và nâng cao nhân quyền cho người dân tộc.

Thứ hai, thông qua việc công nhận tập quán pháp, văn hóa cũng như tập quán của các dân tộc thiểu số được tôn trọng và bảo tồn, vì tập quán pháp thường đề cập quyền của nhóm dân tộc và các quyền về văn hóa bản địa.

Thứ ba, mục đích của áp dụng tập quán pháp trước hết là vì quyền lợi của cộng đồng, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn đối với đất nước có nhiều sắc dân.

Thứ tư, ở một số quốc gia, việc công nhận và áp dụng tập quán pháp đi đôi với việc tuân thủ pháp luật quốc tế về quyền con người. Ví dụ, trường hợp của Cộng hòa Botswana (Nam Phi), pháp luật quy định rằng bất kỳ việc áp dụng tập quán pháp nào vi phạm quyền con người thì bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế. Do đó, việc công nhận tập quán pháp phải hết sức thận trọng vì bất kỳ động thái nào của nhà nước cũng mang ít nhiều ảnh hưởng đến quyền con người.

2. Ảnh hưởng tiêu cực của tập quán pháp đối với quyền con người

Có thể nói rằng việc bảo vệ và phát triển nhân quyền hiệu quả nhất là thông qua pháp luật mà trong đó áp dụng tập quán pháp như một hình thức mở rộng và bảo vệ quyền của các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, việc áp dụng tập quán pháp đôi khi gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với quyền con người, đặc biệt là trong việc giải quyết các mâu thuẫn phát sinh từ sự khác biệt pháp luật do nhà nước ban hành và tập quán của các đồng bào dân tộc. Các cộng đồng thiểu số thường chỉ chú trọng vào lợi ích cho chính bản thân cộng đồng đó mà không đặt nặng vấn đề về sự cân bằng của xã hội. Điều này là do:

Thứ nhất, việc áp dụng tập quán pháp có thể tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật. Tập quán pháp thường liên quan đến quyền của một hoặc một số nhóm người nhất định nhưng vấn đề đặt ra ở đây là trong xã hội cùng tồn tại rất nhiều nhóm người khác nhau. Việc áp dụng tập quán của nhóm người này có thể gây ảnh hưởng đến nhóm người khác và điều này sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các nhóm người và đồng thời cũng gây ra sự khó khăn về mặt pháp lý nhà nước. Do đó cần có một hệ thống pháp lý mang tính chất chủ đạo để điều hòa sự xung đột này. Mặt khác, việc áp dụng tập quán phải hết sức thận trọng để có sự hòa hợp trong hệ thống pháp luật quốc gia. Không được áp dụng tập quán pháp khi nó trái với Hiến pháp, trái với các nguyên tắc luật định của nhà nước hoặc không phù hợp với quyền con người. Ví dụ, khoản 1 Điều 2 Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ nước ta quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đối với công dân thuộc các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa cũng đã quy định rõ: "Phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với những nguyên tắc quy định của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì được tôn trọng và phát huy".

Thứ hai, vấn đề trao quyền cho nhóm hay cá nhân. Tiếp cận mối quan hệ giữa tập quán pháp và quyền con người trong giai đoạn hiện nay là vấn đề khó khăn, bởi lẽ có sự tranh luận gay gắt về việc trao quyền cho nhóm hay trao quyền cho cá nhân. Việc trao quyền cho nhóm có được hiểu là trao quyền cho thành viên (cá nhân) của nhóm hay không và việc áp dụng tập quán pháp sẽ có lợi cho nhóm hay cá nhân, hay có lợi ích cho cả nhóm lẫn cá nhân?

Pháp luật, suy cho cùng, là cho quốc gia, là vì cái chung của xã hội trong khi quyền con người đề cao vai trò và tự do cá nhân. Có một điều tưởng chừng như nghịch lý là: một mặt, nhân quyền, quyền cá nhân, quyền bình đẳng được hô hào đề cao; nhưng mặt khác, lại kêu gọi áp dụng tập quán pháp để bảo vệ quyền lợi của các dân tộc thiểu số. Nhiều học giả cho rằng nhà nước không nên gây ra sự đặc quyền cho bất kỳ chủ thể nào để bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể và công bằng cho xã hội.

Thứ ba, một điều cần quan tâm khác là tập quán được cho là có sự phân biệt về dân tộc, giới tính… và đây là sự khác biệt lớn nhất giữa tập quán pháp và pháp luật chung của nhà nước. Theo một số nhà nghiên cứu, văn hóa và tập quán được hình thành do những người đàn ông trong xã hội, do đó, khi tập quán (hầu hết là bất thành văn) được áp dụng, phụ nữ sẽ là người bị thiệt thòi hơn vì trong đa số trường hợp người đàn ông lãnh đạo xã hội và là nhân tố chính hình thành nên tập quán. Hơn nữa, nếu trong xã hội có nhiều tầng lớp khác nhau thì liệu những tầng lớp được cho là cấp thấp (quan điểm về tầng lớp xã hội chắc chắn vẫn tồn tại trong thời đại ngày nay) có được đưa ra ý kiến hay đưa ra quyết định về việc áp dụng hay không áp dụng tập quán.

Thứ tư, tập quán hầu hết không được luật hóa (bất thành văn) và chính điều này rất dễ gây ra sự mâu thuẫn giữa các tập quán cũng như gây ra sự khó khăn khi áp dụng trong thực tế vì tính không rõ ràng của chúng. Điều này đi ngược lại một thuộc tính cơ bản của pháp luật là: tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.

Nhìn chung, có nhiều sự nhận thức và quan niệm khác nhau về quyền con người và tập quán pháp và chính những nhận thức khác nhau này là nguyên nhân của nhiều cuộc tranh luận. Đó có thể là những tranh luận về cơ chế giải quyết vấn đề. Đó cũng có thể do sự khác nhau về quan điểm hoặc đường lối chính trị vì cho rằng áp dụng tập quán pháp mang tính nhạy cảm chính trị. Dù đứng ở bất kỳ góc độ hay quan điểm nào, các tranh luận đều có những lý lẽ của nó. Do đó, rất cần có những nghiên cứu chuyên sâu phù hợp với từng quốc gia cụ thể.

III. Lựa chọn và áp dụng tập quán để bảo đảm quyền con người cho cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

1. Thực tiễn pháp lý Việt Nam về vấn đề tập quán

Tập quán pháp đã hiện diện trong lịch sử pháp lý Việt Nam kể từ thời phong kiến, đặc biệt là Bộ Luật Hồng Đức (thế kỷ XV) đã giải quyết một cách hợp lý mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức và phong tục tập quán. Trong những năm gần đây Chính phủ Việt Nam và các nhà làm luật, nhà nghiên cứu đã đặc biệt quan tâm đến việc từng bước xây dựng tập quán pháp. Bước đầu chúng ta đã có các cơ sở pháp lý cho việc hình thành và áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam . Cụ thể là Điều 5 Hiến Pháp 1992 với quy định về việc giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số. Trên tinh thần Hiến pháp 1992, nhiều văn bản pháp lý đã quy định những vấn đề liên quan đến tập quan, như: Chỉ thị 24/1998/CT-TTg ngày 19/06/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư với nội dung cơ bản là đưa ra một số định hướng cho việc hình thành hương ước ở các làng, bản, thôn, ấp và cụm dân cư. Nội dung chủ yếu của hương ước bao gồm việc giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; góp phần xây dựng nếp sống văn minh, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; bài trừ những hủ tục ở địa phương. Ngày 31/01/2000, Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Thông tư Liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTMTTQVN để hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. Nội dung hương ước phải thể hiện được phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng; đảm bảo và phát huy quyền tự do dân chủ của nhân dân; thực hiện nếp sống văn minh trong ứng xử và giao tiếp; phát huy tinh thần tương thân tương ái và tình làng nghĩa xóm; loại bỏ hủ tục, mê tín; đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trong phạm vi làng, bản; đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để đảm bảo thực hiện hương ước.

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 được xem là một bước quan trọng trong việc ghi nhận và áp dụng tập quán trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam . Điều 6 của Luật quy định: "Trong quan hệ hôn hân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy". Cùng với Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định số 32/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/3/2002 đã quy định chi tiết việc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số.

Vấn đề áp tập quán gần đây càng được quan tâm nhiều hơn. Nghị Quyết số 48-NQ/TW ngày 2405/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đưa ra mục tiêu, quan điểm và định hướng chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Điểm cần chú ý ở đây là Nghị quyết đã xác định việc "xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân tộc, tôn giáo theo hướng tăng cường đoàn kết đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên cơ sở đại đoàn kết dân tộc. Thể chế hóa toàn diện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, cùng phát triển của các cộng đồng dân tộc; bảo đảm quyền của công dân về tự do tín ngưỡng, phát huy những mặt tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo". Nghị quyết cũng nhấn mạnh về việc nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) để góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật. Ngày 02/06/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Một trong những quan điểm được đề cập trong Nghị quyết số 49-NQ/TW là việc cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Có thể nói Bộ luật Dân sự 2005 là ghi nhận nổi bật nhất trong vấn đề công nhận tập quán ở Việt Nam . Điều 3 của Bộ luật Dân sự quy định: "Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán… Tập quán không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này". Bộ luật Dân sự 2005 được xem như một bước đột phá vì trong một thời gian dài, tập quán đã bị đặt dưới một cái nhìn rất tiêu cực của Nhà nước. Nó không được áp dụng vì bị cho rằng nó lạc hậu, tiêu cực và mang tính cục bộ, địa phương. Với những văn bản pháp lý mang tính chất nền tảng này, tập quán đang có những bước khởi đầu thuận lợi trong việc trở thành tập quán pháp - nguồn luật chính thức trong hệ thống pháp luật Việt Nam .

2. Kiến nghị cho việc áp dụng tập quán để đảm bảo quyền con người cho cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Việt Nam đã có những nhận thức mang tính tích cực về khả năng áp dụng tập quán pháp như một nguồn luật chính thức trong hệ thống pháp luật nhằm hướng tới sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật quốc gia, ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Mục đích quan trọng nhất của việc thực hiện này là góp phần bảo vệ những giá trị truyền thống văn hóa của cộng đồng các dân tộc; dành sự quan tâm nhiều hơn cho cộng đồng thiểu số, nơi vẫn còn đang rất thiếu thốn về cơ sở vật chất, kiến thức xã hội và pháp luật và quan trọng hơn, nơi vẫn đang tồn tại những tập tục và luật lệ được cho là phù hợp với đời sống của họ, đang được áp dụng trong đời sống sinh hoạt, giao dịch hàng ngày của đồng bào dân tộc. Để việc áp dụng tập quán đi đôi với vấn đề bảo vệ quyền con người, teo chúng tôi, chúng ta cần lưu ý những điểm sau:

a. Gìn giữ những giá trị truyền thống của cộng đồng thiểu số là góp phần vào việc phát triển quyền con người

Bảo vệ và duy trì những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số là góp phần bảo vệ quyền con người. Văn hóa là khía cạnh mang tính chất nền tảng của đời sống con người Mỗi một cộng đồng người đều có một nền văn hóa nhất định và do đó, việc bảo vệ, bảo tồn và phát triển văn hóa của cộng đồng, nhất là các dân tộc ít người cũng chính là biểu hiện của việc bảo vệ quyền con người.

Một điều có thể khẳng định rằng trong những hoàn cảnh cụ thể, truyền thống văn hóa ảnh hưởng đến cá nhân. Điều này có thể lý giải được rằng đối với một vấn đề hay sự việc cụ thể, các nhóm dân tộc khác nhau lại có cách đánh giá và hành xử khác nhau. Trong sinh hoạt đời sống hay trong các giao dịch mang tính pháp lý cũng vậy, mỗi nhóm dân tộc đều có những quy tắc xử sự riêng và được hiểu theo cách của họ. Chính sự khác biệt này đôi khi đã gây ra sự mâu thuẫn với pháp luật hay chính sách của Nhà nước, cũng như mâu thuẫn đối với các nhóm dân tộc khác. Nếu như Nhà nước có một quy định rõ ràng, đưa ra một ranh giới nhất định cho cách hành xử của cộng đồng, vừa phù hợp với pháp luật chung của Nhà nước và lợi ích chung của xã hội, vừa phù hợp với các quy tắc ứng xử của cộng đồng thì sẽ mang lại hiệu quả rất to lớn trong việc quản lý xã hội và bảo đảm quyền con người. Trong thế giới đầy biến động ngày nay, sự giao thoa, ảnh hưởng giữa các quốc gia về kinh tế, chính trị và văn hóa là rất lớn. Tuy nhiên, với tập quán pháp ít nhiều sẽ duy trì được bản sắc văn hóa của các dân tộc trong xã hôi hiện đại ngày nay.

b. "Trường hợp đặc biệt" cần có "mối quan tâm đặc biệt"

Khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội và đặc biệt là khác biệt lớn trong tập quán (trường hợp đặc biệt) nên các nhóm người hay các nhóm dân tộc cần có những mối quan tâm đặc biệt. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến rất đúng của Luke McNamara cho rằng: những yếu tố về kinh tế, xã hội và văn hóa cần phải được lưu ý khi áp dụng luật. Ở Việt Nam đang và sẽ vẫn còn một khoảng cách rất lớn về kinh tế - xã hội và văn hóa giữa các vùng miền, giữa cư dân thành thị, nông thôn và các nhóm dân tộc. Rõ ràng là chúng ta không thể đánh đồng việc áp dụng các chính sách cũng như các công cụ pháp lý cho những chủ thể trong những điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa khác nhau.

Trong bất kỳ nhà nước hay xã hội nào, khi áp dụng các nguyên tắc hay luật lệ thì đều hướng tới sự cân bằng và công bằng cho cá nhân hay cộng đồng và vì mục đích này mà các nguyên tắc hay luật lệ có ý nghĩa và giá trị to lớn trong đời sống xã hội. Đứng về mặt quản lý nhà nước, chúng ta có thể nói rằng một hệ thống luật lệ này quan trọng hơn các hệ thống luật lệ khác vì vai trò của nó quan trọng hơn trong việc điều chỉnh hành vi. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, chúng ta không thể khẳng định rằng trong hệ thống các nguyên tắc, luật lệ, cái này sẽ quan trọng hơn cái kia. Việc áp dụng cái nào (hay luật lệ nào mang tính vượt trội) sẽ được quyết định bằng ý chí chủ quan của nhà nước.

Theo một số tác giả, pháp luật nhà nước là quan trọng vì yêu càu chủ thể phải tuân thủ theo những chuẩn mực nhất định cho dù chủ thể có muốn hay không muốn. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa các hệ thống luật lệ vì có sự khác biệt giữa mục đích cũng như chức năng điều chỉnh.

Cần lưu ý rằng các hệ thống pháp lý khác nhau cùng tồn tại trong xã hội sẽ biểu hiện với nhiều trạng thái khác nhau: hỗ trợ, mâu thuẫn, hoặc phớt lờ nhau… Trong các trạng thái này, biểu hiện đáng quan tâm nhất là sự xung đột nhau và điều này rất dễ gây ra những vấn đề về xã hội cũng như dễ dẫn đến sự phân nhánh về chính trị. Do đó, nhà nước phải rất thận trọng khi đưa ra những chính sách mang tính pháp lý và đặc biệt là khi xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia. Công nhận và áp dụng tập quán pháp là điều tốt nhưng phải bảo đảm không xảy ra tình trạng "cát cứ" của các cộng đồng dân tộc, cũng như không gây ra những bất ổn về chính trị cho quốc gia. Vì, việc áp dụng tập quán pháp là sự chia sẻ việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cùng một quốc gia, trong đó có thể bao gồm cả việc hình thành cơ chế pháp lý mới và cả việc sử dụng đội ngũ già làng hay những người có vị trí và uy tín cao trong cộng đồng các dân tộc.

c. Giảm bớt sự bất bình đẳng giữa các vùng miền và giữa các cộng đồng ở Việt Nam

Theo nhiều nhà nghiên cứu, tập quán pháp hướng đến quyền bình đẳng cho cộng đồng thiểu số. Tuy nhiên, việc công nhận và áp dụng tập quán pháp cũng góp phần đưa ra những "đặc quyền" cho người dân tộc và các cộng đồng dân tộc ít người. Đã có nhiều nghiên cứu xung quanh sự xung đột giữa quyền con người và tập quán pháp với nhiều ý kiến đồng tình cũng như phản đối. Vấn đề là cách thứ áp dụng tập quán pháp của nhà nước như thế nào để có thể đảm bảo hài hòa lợi ích của cá nhân và tập thể, của cả dân tộc nói chung và từng nhóm thiểu số nói riêng. Vì, khó có thể tách rời cá nhân ra khỏi mọt cộng đồng nhất định và sẽ không thể có cộng đồng nếu không có từng cá nhân, từng thành viên hình thành nên cộng đồng đó. Cũng như khi chúng ta đề cập quyền và nghĩa vụ của cá nhân trong cộng đồng thì mối tương quan của quyền và nghĩa vụ cũng mang tính chất rất tương đối.

Việt Nam đang nỗ lực hết sức để phát triển đất nước, đặc biệt là giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, mở rộng dân chủ trong cộng đồng dân cư thiểu số. Do đó, công nhận và áp dụng tập quán pháp như một nguồn luật chính trong hệ thống pháp luật Việt Nam là một trong những công cụ pháp lý quan trọng cho việc thực hiện chính sách này. Tuy nhiên, cũng cần phải có một cơ chế rõ ràng cũng như sự minh bạch và nhất quán trong nhiều vấn đề liên quan như: quyền con người, chủ quyền quốc gia, sự quản lý xã hội của Nhà nước và sự công bằng xã hội.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Sáng 15/4, sau Lễ đón cấp Nhà nước tại Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã hội đàm với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình.
Dấu ấn Mặt trận trong thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Thực hiện sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp và các quy định về quyền và trách nhiệm của MTTQ VN, MTTQ VN các cấp đã chủ động, tích cực, sáng tạo, linh hoạt phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đã tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 -2031, bảo đảm thời gian, đúng quy định của pháp luật.
Trung tâm SUDECOM khởi động dự án hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số tại tỉnh Lào Cai
Ngày 7/4, tại tỉnh Lào Cai, Đoàn công tác của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tham dự Hội nghị triển khai dự án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo việc làm cho thanh niên cộng đồng các dân tộc miền núi tại tỉnh Lào Cai” của Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM).
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tiếp cận mới trong chăm sóc sức khỏe người trẻ
Sáng ngày 10/4, tại Trường Cao đẳng Bình Thuận, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Trường Cao đẳng Bình Thuận tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tác động của nhịp thở có kiểm soát lên biến thiên nhịp tim (HRV) và nồng độ Cortisol huyết thanh ở người trẻ”.
Vĩnh Long: Hội thi Trần Đại Nghĩa là "người dẫn đường" cho phong trào khoa học công nghệ của tỉnh
Trong bối cảnh toàn quốc đang quyết tâm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (STKT) Trần Đại Nghĩa đã không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, từ khâu tuyên truyền đến hỗ trợ tác giả, nhằm tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngay tại cơ sở.
Đắk Lắk: Hướng đi xanh từ thủy sản và vỏ dứa
Từ những phụ phẩm tưởng chừng phải bỏ đi trong ngành thủy hải sản và chế biến hàng thủy sản, có một giải pháp kỹ thuật đã mở ra hướng đi mới: sản xuất phân bón hữu cơ sinh học giàu đạm, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững và giảm áp lực môi trường.
Khởi động Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026: Lan tỏa tinh thần sáng tạo STEM trong học sinh
Sáng 11/4, tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) phối hợp cùng Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (Samsung) tổ chức Lễ khởi động Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026. Đây là sân chơi sáng tạo quy mô toàn quốc dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, hướng tới thúc đẩy tư duy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thế hệ trẻ.
Tuyên Quang: Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
Chiều ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các sở, ban ngành, UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hội tỉnh.