Vấn đề lồng ghép biến đổi khí hậu vào chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
Xem xét đánh giá hiện trạng biến đổi khí hậu và kịch bản của nó trong thế kỷ XXI để xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH và lồng ghép các vấn đề BĐKH vào kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp bền vững ở Việt Nam là hết sức cần thiết.
Đánh giá chính sách liên quan đến BĐKH
Tất cả các lĩnh vực thuộc ngành nông nghiệp với nghĩa rộng đều liên quan đến khí hậu như: chế độ canh tác, dịch bệnh, phòng chống bão lụt, thủy lợi, dân cư nông nghiệp và thủy sản. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là với các tác động của BĐKH có thể diễn ra theo kịch bản thì ngành Nông nghiệp và PTNT cần phải tiếp tục làm gì để ứng phó với BĐKH trong thời gian tới. Văn bản có tính pháp lý là khung chương trình hành động thích ứng với BĐKH của Bộ Nông nghiệp và PTNT đã được ban hành theo Quyết định số 2730/QĐ-BNN-KHCN ngày 05/9/2008.
Khung chương trình hành động thích ứng với BĐKH của ngành Nông nghiệp và PTNT có mục tiêu chung nhằm nâng cao khả năng giảm thiểu và thích ứng với BĐKH nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại, đảm bảo phát triển bền vững lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn trong bối cảnh bị tác động bởi BĐKH. Trong đó, chú trọng đến các vấn đề đảm bảo ổn định, an toàn dân cư cho các thành phố, các vùng, miền, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc bộ, miền Trung, miền núi; Đảm bảo sản xuất nông nghiệp ổn định, an ninh lương thực; đảm bảo 3,8 triệu ha canh tác lúa hai vụ; Đảm bảo an toàn hệ thống đê điều, các công trình dân sinh, hạ tầng kinh tế kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Chương trình hành động thích ứng với BĐKH nhấn mạnh đồng thời cả giảm thiểu và thích ứng nhưng nhấn mạnh ở thích ứng để giảm thiểu thiệt hại (khác với giảm thiểu phát thải). Theo đó nhấn mạnh về việc bảo đảm ổn định sản xuất nông nghịêp và an ninh lương thực; bảo đảm diện tích lúa canh tác 2 vụ (3,8 triệu ha); bảo đảm an toàn dân cư, hệ thống đê điều, các công trình dân sinh, hạ tầng kỹ thuật.
Trong mọi trường hợp, không phụ thuộc vào kịch bản của BĐKH và nước biển dâng. Ngành Nông nghiệp và PTNT cần phải bảo đảm được sản xuất nông nghiệp ổn định, an toàn dân cư. Có hai tiêu chí rất rõ là phải bảo đảm được an toàn hệ thống đê biển và duy trì đủ 3,8 tnệu ha đất lúa 2 vụ .
Quy hoạch đề xuất giải pháp đảm bảo dân cư sống ổn định trong điều kiện nước biển dâng phải có sự đồng thuận của các cấp, ngành và nhân dân, vì vậy cần làm cho cả xã hội nhận thức đầy đủ về tính tất yếu Việt Nam phải ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, và tác động của nó, từ tự nhiên đến kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng. Cần phải tiến hành đánh giá mức độ dễ bị tổn thương của dân cư các vùng chịu ảnh hưởng tiềm tàng của BĐKH và mực nước biển dâng, coi đây như là một nội dung của khởi đầu quy hoạch lại dân cư đảm bảo cuộc sống ổn định. Đối với từng vùng khác nhau cần có điều chỉnh các chương trình sao cho phù hợp với đặc điểm của vùng, tác động đặc thù của BĐKH đến từng vùng.
Ở đồng bằng Bắc bộ và miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng Bắc bộ, dân cư đông đúc trù phú sống ổn định bao đời nay, việc thực thi các giải pháp phải phù hợp để đảm bảo vừa kế thừa và đảm bảo được tính ổn định. Cuối cùng, mọi quy hoạch, giải pháp đề xuất cần được phản biện nghiêm túc, đặc biệt các quy hoạch các vùng duyên hải và cận duyên hải, các công trình đầu tư yêu cầu nguồn vốn lớn tại những địa bàn được dự báo có nhiều khả năng bị tổn thương do nước biển dâng, bảo đảm công trình bền vững, đạt hiệu quả tổng hợp cao mà không bi lãng phí.
Đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, dựa trên các kết quả điều tra cơ bản tổng hợp và đối chiếu với thực tế sản xuất, kinh tế - xã hội, khi quy hoạch đảm bảo đời sống dân cư sống ổn định trong điều kiện BĐKH và nước biển dân sẽ có những biến động lớn. Biến động về phân bố dân cư, đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế sẽ diễn ra sự dịch chuyển trong nội vùng và ra ngoài vùng Đồng bằng sông Cửu Long, những biến động về môi trường tự nhiên và về kinh tế - xã hội nêu lên trên đây sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long nếu không kịp thời có sự ứng phó thích hợp, cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ gặp nhiều xáo trộn lớn.
Vai trò vựa lúa của cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách nhà nước mà Đồng bằng sông Cửu Long đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng, trước tiên là an ninh lương thực cho cả nước.
Ở vùng Duyên hải miền Trung, do tính không ổn định của địa mạo hơn những địa bàn khác, ở vùng Duyên hải miền Trung tác động về mặt tự nhiên và kinh tế xã hội gắn chặt và trực tiếp với nhau, từ phía đồi núi phiaa Tây cũng như từ phía Biển Đông. Những địa bàn bị ảnh hưởng mạnh nhất là các đồng bằng ven biển và ở cuối các con sông, nơi mật độ dân số rất cao và phải chịu sức ép từ hai phía biển và núi. Nhìn tổng thể, kinh tế - xã hội, đời sống dân cư vùng duyên hải miền Trung khi quy hoạch lại sẽ chịu sự tác động trên các mặt: Biến động về mặt tự nhiên tác động lên kết cấu hạ tầng, lên kinh tế biển và du lịch; sức hút đầu tư cho khu vực II và khu vực III có thể bị ảnh hưởng; Xây dựng và bảo vệ kết cấu hạ tầng tốn kém hơn. Nguy cơ lớn nhất của vùng này là có thể sẽ diễn ra sự dịch chuyển dân cư, lao động, các đô thị và cơ sở kinh tế trong nội vùng từ vùng thấp lên vùng cao, và ra ngoài vùng. Biến động này, đến lượt nó, có thể tác động đến sự ổn định địa mạo nếu không tính toán và chuẩn bị kỹ vị trí các địa bàn tiếp nhận.
Lồng ghép đề xuất các chính sách và thể chế phù hợp nhằm thích ứng với BĐKH
Các chính sách về phát triển nông nghiệp và nông thôn của Việt Nam đề ra phải nằm trong khuôn khổ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt nam, bảo đảm xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước bảo đảm phát triển bền vững. Việc đề ra các chính sách phải bảo đảm phát triển, có tính khả thi cao, không chồng chéo, lãng phí. Các chính sách phải thể hiện tính kế thừa và có thể đạt được nhiều mục đích trong xây dựng và phát triển, liên ngành, đa ngành. Bài viết đề xuất một số chính sách lồng ghép BĐKH trong phát triển nông nghiệp, nông thôn: Lồng ghép các kết quả nghiên cứu điều tra, quan trắc và dự báo thời tiết, khí hậu của ngành Khí tượng Thuỷ văn đối với ngành Nông nghiệp; Lồng ghép chương trình vệ sinh nước sạch, môi trường nông thôn với các công trình phát triển thuỷ lợi, thuỷ điện và tiết kiệm nguồn nước mặt, bảo vệ và phát triển rừng; Lồng ghép nghiên cứu qui hoạch sử dụng đất đa mục tiêu trung hạn và dài hạn; Lồng ghép các qui hoạch vùng sản xuất nông lâm nghiệp với chương trình an ninh lương thực và năng lượng quốc gia; Lồng ghép các nghiên cứu công nghệ cao, công nghệ sinh học với bảo tồn và phát triển quĩ gen; Lồng ghép hoạt động của chương trình xoá đói giảm nghèo với các hoạt động ứng phó và giảm thiểu các tác động tiêu cực của BĐKH cuả các vùng dân cư ven biển và vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
Đồng thời, ưu tiên phát triển sản xuất sạch, tiết kiệm năng lượng giảm phát thải khí nhà kính trong trồng trọt và chăn nuôi. Lồng nghép nghiên cứu phát triển công nghệ, các tiến bộ khoa học mới về nông nghiệp và PTNT với các hoạt động thích ứng với BĐKH và giảm thiểu phát thải khí nhà kính.
Về kỹ thuật đối với sự thích nghi với biến đổi khí hậu
Từ kịch bản biến đổi khí hậu (chỉ có nhiệt độ, mưa) và mực nước biển dâng để cho ngành Nông nghiệp có cơ sở áp dụng vào chỉ đạo sản xuất cần phải xây dựng các tiêu chí biến đổi của các yếu tố khí hậu có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp như ngày bắt đầu và kết thúc các cấp nhiệt độ qua 20, 25 0C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối năm, ngày bắt đầu và kết thúc mùa mưa, mùa sinh trưởng, tích nhiệt nam… Trên cơ sở đó làm cơ sở để giải quyết các vấn đề chuyển đổi mùa và thời vụ đối với những cây ngắn ngày như lúa, ngô, khoai, đậu tương, lạc và những cây rau màu khác nên khuyến cáo làm nhiều vụ trong năm. Thực hiện đa dạng mùa vụ và giống đối với các cây trồng chính và bố trí phù hợp với khí hậu đối với từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của chúng. Đồng thời chọn tạo những giống cây trồng mới, trên cơ sở lai tạo phần lớn cây trồng trong giới hạn cho phép, tiếp tục chọn tạo những giống mới có khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu.
Đối với nguồn nước và hệ thống tưới thủy nông cỏ ý nghĩa với cây trồng cạn nhưng hệ thống tưới phụ thuộc vào nguồn nước. Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lớn đến nguồn nước bởi vậy hệ thống tưới phải được tính toán cẩn thận và đáp ứng được lượng nước tối ưu cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng.
Đầu tư và quản lý điều hành: Thêm phân đạm và các loại phân hữu cơ khác là cần thiết nhưng lại dẫn đến hiệu ứng CO 2. Bởi vậy quản lý, điều hành và điều phối phân bón cho
SXNN là cần thiết, để hạn chế nguồn thải CO 2. Đồng thời canh tác đúng kỹ thuật sẽ giảm thiểu được khí CO 2tăng nguồn hữu cơ cho đất, tránh được sự xói mòn, làm giảm sự mất mát Nitơ trong đất. Bên cạnh đó cần áp dụng dự báo khí hậu và dự báo ENSO để chuyển đổi cơ cấu cây trồng và thời vụ cho phù hợp với quy luật diễn biến của thời tiết khí hậu đối với từng vùng.
Kết luận
Biến đổi khí hậu ở Vệt Namthể hiện tính bất ổn định riêng của một nước nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Nam châu Á với bờ biển dài trên 3.000km. Những nghiên cứu cho thấy, số cơn bão đổ bộ vào Vệt Nam , nhiệt độ năm, nhiệt độ hầu hết các tháng đều tăng trên mức xu thế và có thể sẽ ổn định trong tương lai. Xu thế BĐKH, kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở tất cả các vùng khác nhau trên lãnh thổ. Tất cả những vấn đề nêu trên là cơ sở để tính toán lồng ghép các vấn đề BĐKH vào chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích nghi với khí hậu sẽ là những công cụ hữu hiệu cho sự phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam .








