Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 04/10/2010 18:08 (GMT+7)

Vai trò động lực của lợi ích kinh tế trong sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong sự biến đổi của lịch sử, vai trò động lực của lợi ích được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, như: lợi ích là cơ sở của mọi cuộc đấu tranh giai cấp, mà đấu tranh giai cấp thông qua cách mạng xã hội được coi là động lực trực tiếp của lịch sử, lợi ích là động lực của quần chúng nhân dân trong các cuộc cách mạng, cải biến xã hội… Xét dưới góc độ sản xuất vật chất, lợi ích (trước hết là lợi ích kinh tế) là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo cơ sở nền tảng cho đời sống xã hội.

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, thông qua hoạt động tìm kiếm lợi ích riêng của các cá nhân theo nhiều hướng khác nhau đã làm xuất hiện "một số vô tận những lực giao nhau, một nhóm vô tận những hình bình hành, vì sự đan chéo này mà xuất hiện một hợp lực". Hợp lực đó đã làm cho "lực lượng sản xuất được nhân lên gấp bội". Lực lượng sản xuất này là cơ sở của mọi biến đổi và phát triển của xã hội. Đối với các cá nhân "lực lượng sản xuất" ấy biểu hiện như là một lực lượng xa lạ, ở bề ngoài họ, vì bản thân sự hợp tác đó không xuất hiện một cách tự nguyện mà là một cách tự nhiên, "lực lượng mà do đó họ không thể chế ngự được, và trái lại, lực lượng ấy hiện đang trải qua một chuỗi những giai đoạn và trình độ phát triển chẳng những độc lập với ý chí và hành động của loài người mà trái lại còn điều khiển ý chí và hành động ấy".

Ngoài ra, chủ nghĩa Mác-lênin còn cho rằng trong mỗi một phương thức sản xuất nhất định, lợi ích kinh tế cũng có vai trò thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Bởi vì lợi ích kinh tế (thông qua phân phối) tác động trực tiếp tới tính tích cực của người lao động trong hoạt động sản xuất vật chất. Nếu lợi ích kinh tế được đáp ứng nó sẽ thúc đẩy tính tích cực, sức sáng tạo, sự nhiệt tình, hăng hái của người lao động trong sản xuất, làm cho năng suất lao động tăng lên. Nếu lợi ích không được đáp ứng, hoặc được đáp ứng không đầy đủ, nhất là khi bị cắt xén thì sẽ hạn chế rất nhiều, thậm chí triệt tiêu động lực của người lao động trong sản xuất, làm cho năng suất lao động giảm, nền sản xuất xã hội có thể bị đình đốn. Phát huy được tính tích cực của người lao động cũng có nghĩa là tạo ra sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ở trạng thái đó quan hệ sản xuất tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển. Nó tạo điều kiện cho sự kết hợp tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.

Thực tiễn giải quyết vấn đề lợi ích của người lao động ở nước ta từ trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay đã chứng minh cho điều đó.

Ngay từ năm 1959 trong báo cáo về dự thảo Hiến pháp, Hồ Chí Minh đã nói về ba lợi ích: "Trong chế độ ta, lợi ích của Nhà nước, của tập thể, cùng lợi ích của cá nhân căn bản là nhất trí". Trong nhiều văn kiện, Đảng và Nhà nước ta cũng đã nhiều lần nhấn mạnh vấn đề kết hợp việc khuyến khích bằng lợi ích vật chất với việc giáo dục tinh thần để thúc đẩy sản xuất phát triển. Tuy nhiên, vấn đề lợi ích chưa được nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc. Chúng ta mới chỉ chú ý đến động viên người lao động bằng lợi ích tinh thần để họ phấn khởi bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta cho rằng, cần tiếp tục phát huy cao độ, khai thác triệt để các lợi ích tinh thần và lợi ích chung tạo động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ đó Đảng ta cho rằng lợi ích chung cao nhất là chế độ làm chủ tập thể. "Chế độ làm chủ tập thể, nền văn hóa mới và con người mới là mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là động lực mạnh mẽ của công cuộc xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa". "Ý thức và năng lực làm chủ tập thể, trình độ văn hóa, kiến thức, những tư tưởng và tình cảm yêu nước, yêu lao động của nhân dân phải trở thành lực lượng vật chất thúc đẩy sản xuất phát triển". Tuy vậy, do thực tiễn cuộc sống đã biến đổi mau chóng, nhất là trong sản xuất kinh tế, nên các lợi ích tinh thần, lợi ích chung đã tỏ ra kém hiệu quả trong việc thúc đẩy tính tích cực của người lao động.

Từ thực tế đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6, khóa IV (tháng 9 năm 1979) và thực chất là sau năm 1982, Đảng ta thực hiện chủ trương "ba lợi ích" trong kinh tế, đó là lợi ích của nhà nước, của tập thể và của cá nhân người lao động, xem "ba lợi ích" là một nội dung của chế độ làm chủ tập thể. Trong đó lợi ích của cá nhân người lao động, nhất là lợi ích kinh tế bước đầu được coi trọng và được khuyến khích tạo điều kiện thực hiện. "Thực hiện đúng đắn sự thống nhất giữa ba lợi ích, bảo đảm lợi ích toàn xã hội, bảo đảm lợi ích của tập thể, chú ý đứng mức lợi ích cá nhân người lao động". "Nắm đúng yêu cầu và nguyện vọng của quần chúng, và có chính sách phù hợp với lợi ích thiết thân của người lao động; tìm những hình thức và biện pháp cụ thể kết hợp hài hoà ba lợi ích". Tuy nhiên, ở thời kỳ đó, vấn đề lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế vẫn chưa được giải quyết đúng nên đã làm mất động lực của người lao động, tạo ra một trong những nguyên nhân căn bản của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 80 ở nước ta.

Để khắc phục khủng hoảng trầm trọng của nền kinh tế, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta chủ trương: "Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự nhiệt tình của quần chúng", hay "trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế phải giải quyết đúng đắn các lợi ích kinh tế của toàn xã hội, của tập thể và người lao động, trong đó lợi ích của người lao động là động lực trực tiếp".

Từ Đại hội lần thứ VII (1991) cho đến Đại hội lần thứ X (2006), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh việc kết hợp các lợi ích, "thực tiễn hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và xã hội"; quan tâm và "bảo vệ lợi ích của người lao động…"; thực hiện "kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội"; "Nhà nước và nhân dân cùng nỗ lực phấn đấu cho sự phát triển cuả đất nước, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội".

Nhìn một cách khái quát chúng ta thấy rằng, trong các văn kiện của Đảng ta từ Đại hội VI, đã có nhận thức ngày càng sâu sắc về việc giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích trong xã hội. Trong đó lợi ích kinh tế thiết thân người lao động - động lực trực tiếp của sản xuất được chú trọng và đề cao. Với chủ trương kết hợp hài hoà các lợi ích của chúng ta đã tìm ra được động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ. Kết quả đạt được là, sau hơn hai mươi năm đổi mới, nước ta đã có nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, xã hội ổn định và phát triển, tạo động lực và tiền đề vật chất để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ năm 2001 - 2007, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 7,7%, quy mô nền kinh tế ngày càng lớn mạnh. Đó là những tiền đề vật chất quan trọng để nâng cao thế và lực của nền kinh tế, tăng thu nhập quốc dân.

Mặc dù trong thời kỳ đổi mới lợi ích kinh tế của người lao động đã được giải quyết thoả đáng, nhưng cùng với sự biến đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế xã hội, trong những năm gần đây vấn đề lợi ích kinh tế của người lao động lại xuất hiện một số vấn đề làm ảnh hưởng đến động lực của người lao động, nhất là động lực lao động của giai cấp công nhân - giai cấp cơ bản, sản xuất của cải vật chất chủ yếu cho xã hội.

Hiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp sản xuất của cải vật chất chủ yếu cho xã hội. Giai cấp công nhân chỉ chiếm 13% dân số và 23% lực lượng lao động, song hằng năm đã sản xuất ra khối lượng sản phẩm chiếm hơn 40% giá trị tổng sản phẩm quốc nội và đóng góp 60% ngân sách nhà nước. Đây là sự đóng góp to lớn của giai cấp công nhân, thể hiện vai trò làm chủ của mình không chỉ trong tổ chức lãnh đạo mà còn đóng góp cơ bản vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Giai cấp công nhân đang có đóng góp quan trọng vào quá trình chuẩn bị cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội; tiếp tục thiết lập nền chuyên chính vô sản, sử dụng chuyên chính đó như công cụ để bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân lao động; cải tạo xã hội, cải tạo các giai cấp trong xã hội hướng đến mục tiêu chung; phấn đấu xây dựng mình thành giai cấp dân tộc; tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo xã hội; tham gia tích cực vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đấu tranh vì bình đẳng, công bằng và tiến bộ xã hội…

Lợi ích kinh tế chủ yếu của giai cấp công nhân nước ta hiện nay là thu nhập từ tiền công, tiền lương. Ngoài ra công nhân còn có thu nhập từ tiền thưởng, tiền làm thêm giờ; lợi tức đối với công nhân có cổ phần ở những doanh nghiệp được cổ phần hóa; thu nhập từ an sinh xã hội (đảm bảo xã hội, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp đào tạo lao động…); thu nhập từ phát triển kinh tế phụ gia đình, buôn bán kinh doanh, dịch vụ… Tuy nhiên, xét ở trong các lĩnh vực, hiện nay lợi ích kinh tế của giai cấp công nhân đang bị vi phạm, ảnh hưởng đến quyền lợi và làm mất động lực của người công nhân.

Có thể nói, mặc dù được phân phối dưới nhiều hình thức khác nhau, như tiền lương, tiền công, phân phối theo mức đóng góp, phân phối thông qua các chính sách xã hội (bảo hiểm xã hội, chính sách việc làm, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách cứu trợ xã hội….) nhưng nhìn chung thu nhập của công nhân vẫn còn thấp. Tiền lương, tiền công được trả trên nguyên tắc cơ bản là phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, thể hiện trước hết ở mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, tiền lương, tiền công của công nhân nước ta hiện nay còn rất thấp, chưa đủ để tái sản xuất sức lao động. Theo điều tra, có tới 36,7% công nhân có thu nhập bình quân dưới 1 triêu đồng/tháng, chỉ có 23,8% công nhân có thu nhập bình quân trên 1,5 triệu đồng/tháng. Đặc biệt, hiện nay vẫn còn 1,3% công nhân có mức thu nhập bình quân dưới 300 ngàn đồng/tháng. Do vậy, có tới 42,8% công nhân được hỏi trả lời thu nhập không đảm bảo cuộc sống bình thường của bản thân và gia đình. Mặc dù những năm qua Nhà nước đã có nhiều lần thay đổi mức lương tối thiểu, nhưng tiền lương thực tế của công nhân vẫn sụt giảm đáng kể so với sự tăng lên của chỉ số giá tiêu dùng cho các mặt hàng thiết yếu. Mặt khác, hệ thống tiền lương tối thiểu chủ yếu được áp dụng trong khu vực kinh tế nhà nước có tổng số lao động chiếm dưới 50%, trong khi đó chế độ lương này ít có tác dụng đối với những người lao động thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Ngày 17-6-2009 Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội có báo cáo kết quả thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại 12 doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kêt quả, đoàn thanh tra phát hiện 5 doanh nghiệp chưa triển khai áp dụng mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định (650.000 đồng/tháng, từ ngày 01-5-2009). Theo nhận định của Đoàn thanh tra, đây là hành vi trái luật và trực tiếp làm ảnh hưởng đến đời sống của người lao động. Ngoài ra còn những sai phạm như không có hệ thống thang lương, bảng lương; không có định mức lao động; vi phạm quy định về trả lương làm thêm giờ, không có quỹ dự phòng trợ cấp mất việc; không thực hiện trả trợ cấp mất việc vẫn diễn ra ở nhiều doanh nghiệp; việc xây dựng thoả ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp vẫn mang tính đối phó, hình thức.

Thu nhập thấp nên đời sống của công nhân cũng không đảm bảo. Khảo sát còn cho thấy, tại các khu công nghiệp, khu chế xuất chất lượng bữa ăn của công nhân chưa đảm bảo tái sản xuất sức lao động, chỉ có từ 2% - 7% công nhân được thuê nhà ở do nhà nước, doanh nghiệp xây dựng, còn 95% công nhân chưa được các doanh nghiệp, địa phương tạo điều kiện về nhà ở nên phải thuê nhà ở của nhân dân. Nơi ở rất chật hẹp, không đảm bảo vệ sinh, an toàn… Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và đời sống của công nhân.

Nghiên cứu cho thấy, thời gian qua có tới 90% các cuộc đình công của giai cấp công nhân phát sinh từ việc trả lương thấp, cắt lương, chậm trả lương, phạt lương tuỳ tiện, tiền thưởng bị cắt xén, thời gian làm việc bị kéo dài, định mức lao động quá cao, bảo hiểm xã hội không được giải quyết, ký kết hợp đồng không được thực hiện đầy đủ…Cụ thể, một số doanh nghiệp áp dụng cơ chế làm lương theo sản phẩm, với định mức lao động quá cao, công nhân phải tăng cường độ lao động, kéo dài thời gian làm việc từ 1 đến trên 2 giờ/ngày mới hoàn thành được định mức lao động. Do vậy, nếu tính cả năm, nhiều công nhân phải làm thêm giờ bình quân tới 500-600 giờ, trong khi đó Bộ luật Lao động quy định không được làm thêm vượt quá 200 giờ/năm. Việc trả lương quá thấp cộng với định mức lao động quá cao, bắt công nhân làm thêm ca, thêm giờ đã đẩy nhiều công nhân vào tình trạng suy kiệt về sức khỏe. Điều này không chỉ làm giảm năng suất và hiệu quả lao động của người công nhân mà còn ảnh hưởng đến khả năng tái sản xuất sức lao động có chất lượng. Tình trạng công nhân bỏ việc, nhà máy thiếu lao động sau các dịp nghỉ lễ, tết đã diễn ra thường xuyên và ngày càng có số lượng lớn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của nhiều doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Ở rất nhiều nhà máy, xí nghiệp công nhân không được ký hợp đồng lao động nên dễ bị chủ doanh nghiệp xâm phạm lợi ích. Hiện tượng không đóng bảo hiểm lao động, bảo hiểm xã hội cho công nhân đã trở thành phổ biến, nhất là công nhân ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Điều này đã vi phạm quyền lợi chính đáng của người lao động. Nhiều thoả ước lao động tập thể - một trong những công cụ hợp pháp, chính đáng của công nhân, chưa được thực hiện đầy đủ. Ở một số nhà máy, xí nghiệp, nội dung của thoả ước lao động tập thể còn trái với quy định của Luật Lao động, làm tổn hại đến quyền và lợi ích của công nhân.

Do đời sống khó khăn, nhất là ở khu vực ngoài quốc doanh nên công nhân không có cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ xã hội, hoặc phải tự "triệt tiêu" các nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống của mình. Khảo sát cho thấy, số công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất không có báo đọc, không có tivi, không có căng tin,… chiếm tỷ lệ rất lớn. Mặt khác, do hầu hết các công trình dịch vụ, vui chơi, giải trí trước đây đã chuyển sang kinh doanh nên công nhân không có đủ tiền để thoả mãn các nhu cầu của mình. Tình trạng thất học của công nhân đang có xu hướng tăng lên làm cho khả năng tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống ngày càng khó.

Nhìn tổng quát, "lợi ích của một bộ phận công nhân được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và những đóng góp của chính mình; việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang có nhiều khó khăn, bức xúc, đặc biệt là ở bộ phận công nhân lao động giản đơn tại các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài". Vì vậy, việc tạo mọi điều kiện cho công nhân phát triển, nâng cao được chất lượng cuộc sống, nâng cao vai trò, vị thế của giai cấp công nhân đang là vấn đề cấp bách hiện nay.

Có thể nói, để thúc đẩy nền sản xuất phát triển, chúng ta phải quan tâm thiết thực tới vấn đề lợi ích của người công nhân hiện nay. Đảng ta vừa cho ra đời nghị quyết để điều chỉnh các quan hệ lợi ích trong xã hội, khắc phục sự phân hoá, phân tầng, sự phân biệt đối xử đối với giai cấp công nhân. Cần làm cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí, vai trò của giai cấp công nhân. Có như vậy chúng ta mới tạo ra vị thế, động lực cho người công nhân lao động trong giai đoạn mới.

Nghiên cứu về lợi ích cho ta cơ sở để hiểu thực chất của những biến đổi của xã hội, nhưng điều quan trọng hơn, qua đó chúng ta thấy được vai rò to lớn của con người đối với xã hội của chính mình thông qua hoạt động thực tiễn của họ. Chính con người chứ không phải ai khác là chủ nhân chân chính của lịch sử, là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, thúc đẩy lịch sử đi lên. Mặt khác, dưới góc độ phát triển xã hội, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận vị trí, vai trò của lợi ích trong hoạt động của mỗi cá nhân cụ thể mà chúng ta phải nói đến quan hệ biện chứng giữa các lợi ích đó nhằm tìm ra những động lực chung cho sự phát triển xã hội. Có như vậy, chúng ta mới tạo được những hoạt động của "khối quần chúng đông đảo", của "một dân tộc trọn vẹn" thúc đẩy xã hội phát triển. Ph. Ăngghen viết: "Vậy, nếu vấn đề là nghiên cứu các động lực - một cách có ý thức hay không có ý thức, và thường là không có ý thức - ẩn sau những động cơ của những nhân vật hoạt động trong lịch sử, thì vấn đề không phải là nghiên cứu động cơ của cá nhân riêng lẻ, dù đó là cá nhân xuất sắc đi nữa, mà là nghiên cứu động cơ đã lay chuyển những khối quần chúng đông đảo, những dân tộc trọn vẹn; rồi đến những giai cấp trọn vẹn trong mỗi dân tộc; những động cơ đã đẩy họ không phải đến chỗ tiến hành những cuộc nổi dậy nhất thời theo kiểu "lửa rơm chóng tắt", mà đến chỗ tiến hành những hành động lâu dài đến những biến đổi lịch sử vĩ đại".

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.