Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 26/01/2006 22:54 (GMT+7)

Vai trò của vẹm vỏ xanh trong việc làm sạch môi trường

Từ hình thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh đến thâm canh. Có thể nói rằng đến giai đoạn thâm canh bị chững lại, nhất là từ vài ba năm trở lại đây. Hiện nay có nhiều vùng đìa bỏ không khá nhiều như vùng Cam Ranh, Ninh Hoà, Nha Trang (Khánh Hoà), Ðầm Nại (Ninh Thuận), một số vùng của Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng ...Nguyên nhân của sự thất bại là do ta chưa nắm vững kỹ thuật nuôi và nhất là những đối tượng có khả năng làm sạch môi trường bị khai thác quá triệt để. Trong đó, đáng lưu ý nhất là những loại động vật thân mềm hai mảnh vỏ ( Bivalvia). Trong báo cáo này, chúng tôi giới thiệu khả năng làm sạch môi trường của động vật hai mảnh vỏ mà tiêu biểu là vẹm vỏ xanh.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I. Thí nghiệm khả năng chịu đựng nồng độ muối của vẹm vỏ xanh

Dùng 4 chậu nhựa rửa sạch cho vào mỗi chậu 5 lít nước có nồng độ muối khác nhau: 5, 10, 15, 200/00 cho sụt khí sau đó mỗi chậu cho vào 30 con vẹm sống có kích cỡ trên dưới 1cm, cho tảo đơn bào để làm thức ăn. Theo dõi khả năng thích nghi nồng độ muối của vẹm. Thí nghiệm được tiến hành 72 giờ và lặp lại 3 lần tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III và Trung tâm Khuyến ngư Kiên Giang.

II. Thí nghiệm khả năng lọc tảo đơn bào của vẹm vỏ xanh

Dùng 11 con vẹm vỏ xanh cho vào một thùng chứa 40 lít nước biển, cho tảo đơn bào với mật độ trên dưới 2 vạn tế bào/ml (20.000mm/l). Cứ sau 30 phút lấy nước quan sát mật độ tảo dưới kính hiển vi trên 5 ô nhỏ của buồng đếm. Quan sát sự biến động của mật độ tảo.

III. Thí nghiệm khả năng lọc mùn bã hữu cơ của vẹm vỏ xanh

Dùng 1 kg vẹm cho vào 40 lít nước biển, cho vào bùn mềm có mùi thối rữa trên mặt đáy ở đìa nuôi tôm sú. Sụt khí mạnh, đo độ trong ban đầu. Sau đó cứ 30 phút đo độ trong một lần. Thí nghiệm được thực hiện đến khi thấy vẹm nằm ở đáy.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I. Khả năng chịu đựng nồng độ muối của vẹm vỏ xanh

Kết quả thí nghệm cho thấy ở nồng độ muối dưới 100/00, vẹm không mở vỏ, vẹm yếu và chết dần. ở độ muối trên 150/00 vẹm hoạt động bình thường. Kết quả thí nghiệm được ứng dụng thả nuôi vẹm chung với tôm ở đìa nuôi tôm sú của Công ty út Xi (Sóc Trăng). Thời gian đầu vẹm phát triển rất tốt, nhưng đến tháng 9, 10 năm 2004 mùa mưa đến, độ muối giảm dưới 150/00 thì vẹm chết hoàn toàn, thí nghiệm bị bỏ dở.

II. Thí nghiệm khả năng lọc tảo đơn bào và mùn bã hữu cơ của vẹm tại Trung tâm Khuyến ngư Kiên Giang (4/10/2003)

1. Kích cỡ vẹm thí nghiệm (xem bảng 1)

Bảng 1. Kích cỡ vẹm thí nghiệm

STT

Kích thước vỏ

Trọng lượng

Dài

Cao

Rộng

Cơ thể

Vỏ

Thịt

Dịch thể

Giới tính

1

11,3

5,1

3,6

85,31

61,37

27,45

6,49

+

2

11,4

5

3,6

127,21

51,22

26,19

49,8

-

3

11,2

4,9

3,5

120,19

54,53

19,8

45,86

-

4

11,2

4,7

3,1

99,74

42,81

22,22

34,71

-

5

11

4,7

3,7

165,84

68,82

25,81

25,81

+

6

8,9

3,9

3,4

55,07

37,69

16,43

0,75

+

7

11,8

4,7

3,7

87,02

55,6

28,35

3,87

+

8

12,5

5,2

4,3

118,33

77,15

29,11

12,07

-

9

12,6

5,1

4,6

146,93

100,03

31,22

15,68

+

10

13,5

5,8

4,4

200,94

89,2

36,42

75,32

+

11

14,3

6,5

4,9

281,46

148,19

61,92

71,35

-

Ghi chú :+ (đực)

    -(cái)

Từ bảng 1 cho thấy trọng lượng của vỏ vẹm xanh chiếm trên dưới 50% trọng lượng cơ thể. Những cá thể béo lượng thịt cao hơn dịch thể và ngược lại. Cũng từ bảng 1 cho thấy tỷ lệ đực cái xấp xỉ nhau (6 đực/5 cái).

2. Vai trò của mang xúc biện trong quá trình vận chuyển thức ăn

Cấu tạo mang của động vật thân mềm hai vỏ dạng hình tấm đăng, nên còn có tên là động vật lớp mang tấm (Lamellibranchia): Gồm những tơ mang sắp xếp hai bên trục mang trong đó có 3 loại tơ mang là tơ mang chính (tơ mang gốc), tơ mang phụ bên và tơ mang. Trên mỗi tơ mang có các loại tiêm mao: tiêm mao bên trước, tiêm mao trước, tiêm mao bên. Nước vào mang, mang theo thức ăn nhờ sự vận động của tiêm mao thức ăn được chuyển đến xúc biện và theo đường dẫn thức ăn vào miệng. Sự chọn lọc thức ăn theo tính chất vật lý. Những hạt nhẹ, nhỏ, mịn được đưa đến miệng, những hạt thô, nặng rơi xuống mép màng áo (mantle) và được đưa ra ngoài.

Sau 30 phút lấy mẫu kiểm tra mật độ tảo một lần.

Bảng 2. Kết quả kiểm tra mật độ tảo

Mật độ

Mật độ tảo

Ðộ giảm

Thời gian lấy mẫu kiểm tra

Ghi chú

Ô1

Ô2

Ô3

Ô4

Ô giữa

TB

- Còn 11 con vẹm bố mẹ

- Số lượng vẹm 11 con

- Thể tích 40 lít

- Nhiệt độ nước 32,2 0C

- pH 7,09

- 5 0/ 0030

1

17

18

31

16

18

20

7h30

2

24

25

24

28

25

25,2

- 5.2

8h

3

13

13

9

14

14

12,6

12.6

8h30

4

9

13

14

5

12

10,6

2

9h

5

10

11

16

13

12

12,4

- 1.8

9h30

6

14

11

4

16

5

10

2.4

10h

7

4

4

5

7

5

5

5

10h30

8

4

4

6

3

3

4

1

11h

9

1

3

3

4

2

2,6

1.4

14h30

Sau 9 lần kiểm tra dưới kính hiển vi cho thấy mật độ tảo giảm đi rất lớn. Có ô chỉ còn sót một tế bào. Trung bình trong các ô chỉ còn 1,4 tế bào. Kết quả thí nghiệm cho thấy thực vật đơn bào là thức ăn rất quan trọng đối với vẹm vỏ xanh và các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ.

3. Khả năng lọc mùn bả hữu cơ lấy từ đìa nuôi tôm sú ở Hòn Chông (Kiên Giang)

Thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện môi trường tương tự thí nghiệm khả năng lọc tảo đơn bào. Kết quả thể hiện trong bảng 3.

Bảng 3. Khả năng làm tăng độ trong, thu hút mùn bã hữu cơ của vẹm vỏ xanh

Số lần

Ðộ trong (cm)

Mức tăng độ trong (cm)

Thời gian

1

10

15h15

2

17,5

7,5

15h45

3

24,5

7

16h45

4

40

15,5

18

Kết quả thí nghiệm cho thấy mùn bã hữu cơ là thức ăn rất cơ bản của vẹm cũng như đối với những loại động vật thân mềm hai vỏ. Qua 3 lần kiểm tra độ trong từ 10cm tăng lên 17,5cm; 24,5cm; 40cm. Bằng mắt thường ta có thể thấy vẹm thí nghiệm nằm ở đáy.

Từ kết quả thí nghiệm trên chúng tôi đi đến một số nhận xét và đề xuất ý kiến sau:

1. Khả năng lọc thực vật phù du đơn bào và mùn bã hữu cơ của vẹm vỏ xanh và nhiều loài động vật thân mềm hai vỏ khác là rất lớn. Có thể khẳng định chúng là động vật góp phần quan trọng thu hút mùn bã hữu cơ, làm sạch môi trường.

2. Chúng tôi nghĩ rằng trong các đầm đìa nuôi tôm có thể tạo thêm một số giá thể ở đáy và thả nuôi một số loài vẹm, hàu, sò, ngao, để chúng lọc thức ăn thừa của tôm, góp phần làm cho môi trường trong sạch, tôm phát triển tốt. Chúng tôi đã thử nghiệm nuôi chung vẹm với tôm sú ở Sóc Trăng với mật độ 2 con/m2 nhưng đến mùa mưa nước ngọt xuống dưới 150/00 kéo dài làm cho vẹm không sống được. Vậy các đìa nuôi tôm muốn thả vẹm trong thời gian nuôi phải có nồng độ muối 150/00.

3. Hiện nay, do nhu cầu thực phẩm động vật thân mềm nói chung và động vật thân mềm lớp hai vỏ nói riêng rất lớn. Trong thực tế, người dân chưa nắm được vai trò làm sạch môi trường của động vật lớp hai vỏ, nên nhiều vùng bị khai thác triệt để làm cho nguồn lợi giảm sút tác hại môi trường. Vì vậy, Nhà nước còn giáo dục ngư dân ý thức bảo vệ nguồn lợi. Cần có đề tài nghiên cứu kích cỡ tham gia lứa đẻ lần đầu của một số loại động vật thân mềm kinh tế hai vỏ và không cho phép khai thác từ cá thể nhỏ đến kích cỡ tham gia lứa đẻ lần đầu. Ví dụ: Vẹm vỏ xanh chỉ cho phép khai thác kích cỡ từ trên 7cm trở lên, sò huyết (T.granosa) trên 2,6cm, sò Nođi (T.nodifera) trên 2,5cm.

Cần khuyến khích phát triển nghề nuôi động vật thân mềm hai vỏ (Bivalvia).

Nguồn: Thông tin KHCN & Kinh tế thủy sản, số 12/2005

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tuổi trẻ Liên hiệp Hội Việt Nam hướng tới chào mừng Đại hội IX bằng những công trình thiết thực
Ngày 25/8, Đoàn Thanh niên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) thực hiện công trình thanh niên hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031, gồm hai hoạt động chính là cải tạo, chỉnh trang và gắn biển “Vườn hoa Thanh niên” và số hóa Phòng Truyền thống Liên hiệp Hội Việt Nam.
489 đại biểu chính thức tham dự Đại hội Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX
Ngày 24/8 tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức gặp mặt đại diện các cơ quan báo chí, thông tin về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031. Theo Ban Tổ chức, Đại hội sẽ diễn ra trong hai ngày 27 và 28/8 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với chủ đề “Đoàn kết - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”.
Phú Thọ: Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch và tuân thủ chất lượng sản phẩm
Ngày 21/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Phú Thọ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, trực tiếp là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, phối hợp với Hội Mã số Mã vạch Việt Nam tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến kiến thức về truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch, ghi nhãn hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Lào Cai: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng làm Trưởng ban Tổ chức Hội thi
Ngày 20/8, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Nguyễn Tuấn Anh đã ký ban hành Quyết định số 2945/QĐ-UBND về việc kiện toàn và thành lập Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật cùng Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng cấp tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng được tín nhiệm giao trọng trách Trưởng ban.
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 8/2026: tập trung hoàn tất công tác tổ chức Đại hội IX
Chiều 22/8, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức hội nghị thường kỳ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 8, triển khai nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026 và báo cáo công tác chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc LHHVN lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031.
Vĩnh Long: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày 21/8/2026, tại xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Chi cục Môi trường tỉnh và UBND xã An Phú Tân tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ.
GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.