Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 05/01/2012 20:33 (GMT+7)

Vai trò của nguồn lực cán bộ Khoa học Kỹ thuật quân sự đối với an ninh Quốc phòng và kinh tế Quốc dân

DẪN NHẬP

Nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là tổng hòa các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ khoa học ở các lĩnh vực khác nhau thuộc các đơn vị khoa học công nghệ trong quân đội. Cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là lực lượng có tiêm năng sáng tạo lớn, họ tích cực tiếp thu, chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật quân sự nước ngoài vào xây dựng nền khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam hiện đại. Mặt khác, họ đang cùng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quốc gia đẩy mạnh việc nghiên cứu, sáng chế, phát triển khoa học kỹ thuật dân dụng, dân sinh, gắn kết khoa học và công nghệ quốc phòng với sự phát triển kinh tế của đất nước; góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật có chất lượng cao cho quân đội và đất nước.

1. NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT QUÂN SỰ GÓP PHẦN XÂY DỰNG TIỀM LỰC KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ QUỐC PHÒNG, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA QUÂN ĐỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp đã và đang tác động sâu sắc đến mọi mặt của kinh tế, xã hội. Những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi vào lĩnh vực quốc phòng, an ninh, làm thay đổi tính chất của lao động quân sự theo hướng tỷ trọng lao động trí lực ngày càng tăng và có ưu thế hơn so với lao động thể lực.

Từ khi đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, chúng ta đang xây dựng và phát triển ngành khoa học kỹ thuật quân sự trên cơ sở các tiềm năng sẵn ­có của mình. Với thực trạng phát triển khoa học, công nghệ của quân đội hiện nay, chúng ta chưa có điều kiện để tạo được bước nhảy vọt trong lĩnh vực này. Trong khi đó, khả năng mua sắm vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại là rất hạn chế. Thực tế đó đang đặt ra những bài toán đối với Đảng, Nhà nước và quân đội ta: làm sao có thể khai thác hết mọi tiềm năng chất xám và cơ sở vật chất-kỹ thuật để cải tiến, bảo quản và sử dụng có hiệu quả nguồn vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện có, tiến tới chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự để phục vụ nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc?

Để giải quyết bài toán không mấy dễ dàng nêu trên, ngoài nhiệt tình, trách nhiệm, với tư cách là chủ thể của các hoạt động khoa học kỹ thuật quân sự, đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự đang phải “lao tâm khổ tứ”, tìm tòi, nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng thực hành, kỹ năng triển khai, ứng dụng nhanh chóng những lý thuyết, những tiến bộ của khoa học và công nghệ quân sự hiện đại của thế giới. Đồng thời, kế thừa và phát huy có hiệu qủa những thành tựu về khoa học, công nghệ trong thời gian qua, tìm kiếm giải pháp tối ưu đưa ngành khoa học kỹ thuật quân sự nước nhà phát triển.

2. NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT QUÂN SỰ GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO, BỒI DƯỜNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC KỸ THUẬT CÓ CHẤT LƯỢNG CAO CHO QUÂN ĐỘI VÀ ĐẤT NƯỚC

Hiện nay, đối với nước ta, phát triển kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng khắc phục tình trạng tụt hậu về kinh tế, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng-an ninh trong tình hình mới. Sự phát triển kinh tế tri thức và nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta trong chiên tranh công nghệ cao đòi hỏi quân đội và đất nước phải có nguồn nhân lực chất lượng cao.

Cùng với những chủ trương, chính sách và giải pháp có hiệu quả khác, việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học sẽ góp phần tích cực để đạt mục tiêu đó. Bởi lẽ, trước hết, đại đa số cán bộ khoa học là nguồn nhân lực bậc cao của quân đội và đất nước. Đồng thời, thong qua hoạt động thực tiễn như giảng dạy, nghiên cứu, chế tạo, sử dụng, tổ chức quản lý khoa học kỹ thuật quân sự ở các cơ quan, đơn vị đã trực tiếp tham ggia phát triển nguồn nhân lực quân sự và cả dân sự chất lượng cao. Thực tế cho thấy, những năm qua, một bộ phận cán bộ khoa học có trình độ sau đại học công tác tại các học viện, các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự được giao nhiệm vụ đào tạo,, giảng dạy cán lĩnh vực khác nhau của ngành khoa học kỹ thuật, đang có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giáo dục-đào tạo, góp phần quan trọng trong việc trang bị cho người học những kiến thức khoa học kỹ thuật cần thiết.

3. NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT QUÂN SỰ GÓP PHẦN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ TRIỂN KHAI CÁC CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI, PHỤC VỤ NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

Với tư cách là một bộ phận quan trọng của xã hội, quân đội ta còn tham gia vào các hoạt động chung của xã hội. Đội ngũ sĩ quan quân đội, đặc biệt là cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự không thể tách rời sự nghiệp chung của cả dân tộc; trái lại, họ đóng góp tích cực và có hiệu quả hơn vào sự nghiệp xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội.

Giải pháp lưỡng dụng được thế giới coi là quan trọng và đầy hy vọng để công nghiệp quốc phòng duy trì sự sống còn trong xu thế cắt giảm ngân sách quốc phòng. Đối với một nước nghèo như nước ta hiện nay, khoa học kỹ thuật quân sự cần hướng vào phục vụ kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân, góp phần làm giàu cho đất nước, trên cơ sở đó tạo đòn bẩy để phát triển công nghiệp quốc phòng. Cần coi công nghiệp quốc phòng là bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế quốc dân, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế. Với tiềm lực mạnh về khoa học kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng cần đi tiên phong trong việc phát triển những ngành công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học, viễn thong… làm chỗ dựa cho kinh tế dân sinh phát triển. Việc quân đội tham gia vào các hoạt động xây dựng và phát triển kinh tế, góp phần tạo nguồn của cải vật chất cho xã hội và gỉai quyết một phần nhu cầu của quân đội vừa là chức năng, vừa thể hiện bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.

Việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các công nghệ hiện đại vào phục vụ kinh tế quốc dân, đồng thời sản xuất hang hóa, dịch vụ khoa học kỹ thuật phục vụ dân sinh là một nhiệm vụ quan trọng của công nghiệp quốc phòng nói chung và của các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự nói riêng. Một mặt, công nghiệp quốc phòng bảo toàn được năng lực nghiên cứu, triển khai công nghệ, sản xuất quân sự và đội ngũ công nhân lành nghề, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Mặt khác, thông qua các hoạt động liên doanh, liên kết, đổi mới và chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng và các doanh nghiệp công nghiệp then chốt của Nhà nước, các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng có điều kiện để đổi mới kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh để tích tụ, tập trung vốn, quy tụ năng lực sản xuất, mở rộng sản xuất-kinh doanh, cung cấp những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng dân dụng và quân dụng. Vì vậy, việc chủ động vận dụng những thành tựu của kinh tế tri thức, kinh tế quân sự tri thức để phát triển công nghiệp quốc phòng nứơc ta là phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

4. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP

Nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng

Để xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, cần tập trung giải quyết việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đây là nội dung quan trọng, cơ bản và lâu dài, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự của nước ta. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là một yêu cầu khách quan, đòi hỏi các cơ sở đào tạo, các cơ quan, đơn vị cần tập trung hoàn thiện mục tiêu, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng; chú trọng đến chất lượng nguồn tuyển chọn đầu vào; quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu phát triển của công tác khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự trong tình hình mới.

Bố trí, sử dụng hợp lý và đãi ngộ xứng đáng đối với nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự

Nhịp độ phát triển và hiệu quả hoạt động khoa học kỹ thuật quân sự phụ thuộc rất lớn vào các chính sách xã hội. Chính sách xã hội đúng đắn không những có tác dụng điều tiết các hoạt động kinh tế, khoa học kỹ thuật trong quân đội mà còn có tác dụng to lớn trong việc khơi dậy tiềm năng của cán bộ khoa học, nâng cao tính tích cực lao động và tính tích cực chính trị-xã hội của họ, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật quân sự. Vì vậy, việc bố trí, sử dụng hợp lý, cùng với việc đãi ngộ xứng đáng về vật chất và tinh thần đối với nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là những vấn đề rất quan trọng nhằm phát huy tối đa năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm, gắn bó với nghề nghiệp của nguồn lực này.

Việc phát hiện, chăm sóc, bồi dữơng, bố trí, sử dụng cán bộ khoa học để phát huy tài năng của họ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật quân sự không nên chỉ thể hiện ở quan điểm, trách nhiệm chính trị mà phải được thực hiện bằng cơ chế, chính sách cụ thể.

Xây dựng môi trường xã hội thuận lợi để phát huy năng lực sáng tạo của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự

Trong môi trừơng sống, hoạt động cụ thể, mỗi cán bộ khoa học sẽ tiếp nhận những chuẩn mực xã và nghề nghiệp khoa học, kỹ thuật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình, biến thành nhận thức, tình cảm của những cá nhân. Chỉ trong môi trường hoạt động quân sự lành mạnh mới tạo ra những điều kiện thuận lợi để cán bộ khoa học phát huy mọi tiềm năng sáng tạo trong nghiên cứu khoa học và xây dựng đơn vị. Để giải quyết tốt mối quan hệ này cần thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ như xây dựng môi trường làm việc, môi trường văn hóa lành mạnh để phát huy khả năng của họ.

Nâng cao ý thức tự học, tự rèn luỵên

Tính tích cực của cán bộ khoa học được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng tự học, tự rèn luyện với tư cách là hoạt động tự thân, có định hướng, có mục đích là con đường đạt hiệu quả cao nhất, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt cả cuốc đời. Đây là giải pháp quan trọng để cán bộ khoa học tự củng cố kiến thức, nâng cao trình độ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Cần phải có biệm pháp kết hợp giữa động viên, khuyến khích với quản lý chặt chẽ hoạt động tự học, tự rèn luyện cán bộ khoa học.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng đối với việc phát huy vai trò của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự

Phát huy vai trò của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự chỉ có thể đạt được kết quả khi các tổ chức, các lực lượng nhận thức đúng đối tượng, vị trí, vai trò của hoạt động này. Cán bộ khoa học là một bộ phận của đội ngũ cán bộ quân đội, là lực lượng xung kích của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, giữ vai trò nòng cốt trong việc phát triển nền khoa học kỹ thuật quân sự nước nhà. Bởi vậy, xây dựng nguồn lực cán bộ khoa học vừa là nhiệm vụ trước mắt, vừa là nhiệm vụ có ý nghĩa cơ bản, lâu dài cần được các tổ chức, các lực lượng trong quân đội quán triệt và nhận thức đầy đủ./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ khoa học và công nghệ. 2003. Sử dụng tri thức phục vụ phát triển đối với Việt Nam . Hà Nội: Nxb. Văn hoa-Thông tin.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam . 2000. Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996-1999. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.

3. Đảng ủy Quân sự Trung ương. 2010. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IX. Hà Nội.

4. Đức Lê. 2001. Suy nghĩ về xây dựng nguồn lực con người cho quân đội trong thình hình hiện nay. Tạp chí Quốc phòng toàn dân (7).

5. Hoàng Đình Phu. 2004. Công tác nghiên cứu khoa học trong hai cuộc kháng chiến góp phần phát triển tiềm lực khoa học kỹ thuật quân sự. Tạp chí Kỹ thuật và Trang bị (48).

6. Lê Anh Dũng. 2001. Nâng cao chất lượng xây dựng quân đội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hà Nội: Nxb. Quân đội nhân dân.

7. Nguyễn hoa thịnh. 1998. Xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hà Nội. Nxb. Quân đội nhân dân.

8. Nguyễn Ngọc Hùng. 2004. Kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học-công nghệ làm nền tảng trong công tác kỹ thuật quân sự 30 năm qua (1974-2004), Tạp chí kỹ thuật và Trang bị (84).

9. Phạm Ngọc Chung (chủ biên). 2000. Tình hình và xu hướng xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng và đảm bảo vũ khí, trang bị kỹ thuật một số nước trên thế giới và khu vực. Hà Nội: Trung tâm thông tin khoa học Công nghệ Môi trường. Bộ Quốc phòng.

10. Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự. 2003. Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Nxb. Quân đội Nhân dân.

11. Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự. 2005. Nâng cao chất lượng công tác Đảng, công tác chính trị ở các cơ quan, các viện nghiên cứu khoa học công nghệ của quân đội trong thời kỳ mới. Hà Nội: Nxb. Quân đội Nhân dân.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.