Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 25/11/2011 20:29 (GMT+7)

Vai trò của công nghệ thông tin trong một trung tâm khoa học và công nghệ và các đề xuất cho Thừa Thiên Huế

Quan điểm về một trung tâm KH&CN

Nếu các tiêu chí định hướng để xác định thế nào là một trung tâm KH&CN chưa hẳn là việc làm thực tế, bởi vì tiếng vang của một trung tâm KH&CN thường được mọi người cảm nhận thông qua các hiệu quả ứng dụng và phát triển KH&CN mà nơi đó thể hiện. Một địa phương có rất nhiều trường đại học nhưng vẫn không thể được xem là một trung tâm KH&CN nếu như trong thực tế các kết quả KH&CN đã không thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó.

Kết luận số 48-KL/TW ngày 25/5/2009 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020 đã đánh giá cao tiềm năng KH&CN của tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó nổi bật nhất là hệ thống các trường đại học, và chủ trương phát triển Thừa Thiên Huế thành Trung tâm KH&CN. Đây là một cơ hội lớn cho chúng ta phát triển hơn nữa lĩnh vực này thông qua sự hỗ trợ từ trung ương. Chúng ta cần đặt mục tiêu phát triển KH&CN là nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. KH&CN phải thực sự là tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy áp dụng các thành tựu của KH&CN. Chính vì thế, không nên dừng lại chỉ ở mục tiêu phát triển thêm các trường đại học, đào tạo được nhiều nhà khoa học, có nhiều kết quả nghiên cứu mà nên đặt mục tiêu có bao nhiêu kết quả khoa học đã được ứng dụng trong thực tế để phục vụ cho sự phát triển của địa phương nói riêng và của xã hội nói chung.

Về trình tự, một sự kiện khoa học phát sinh phải qua quá trình nghiên cứu, hình thành công nghệ, sản xuất thử nghiệm thành công rồi mới có thể trở thành công cụ hay giải pháp kỹ thuật đưa vào ứng dụng phục vụ cho đời sống. Một trình tự hai giai đoạn như vậy cũng là quá trình phát triển KH&CN của một địa phương. Muốn áp dụng các thành tựu khoa học, phải nghiên cứu, xem xét, thử nghiệm các điều kiện có thể áp dụng thực tế rồi sau đó mới tổ chức ứng dụng và triển khai rộng. Như vậy, nếu khẳng định mục tiêu KH&CN phải phục vụ phát triển kinh tế thì khi xem xét một địa phương có là một trung tâm KH&CN không phải dựa trên hai yếu tố: Ứng dụng và phát triển. Phát triển là đẩy mạnh việc hình thành các kết quả KH&CN. Ứng dụng là áp dụng các kết quả KH&CN đó vào cuộc sống.

Từ đó, theo quan điểm của chúng tôi, một địa phương được xem như là một trung tâm KH&CN nếu địa phương đó vừa ứng dụng phổ biến vừa phát triển mạnh mẽ KH&CN. Nói một cách khác, phần lớn các cơ quan, doanh nghiệp của địa phương biết sử dụng thành tựu của KH&CN vào các hoạt động tổ chức quản lý hay sản xuất kinh doanh của mình đồng thời địa phương đó cũng có nhiều cơ quan, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực KH&CN, chuyên cung cấp các dịch vụ có hàm lượng chất xám cao này cho các cơ quan, doanh nghiệp.

Như vậy, muốn thúc đẩy sự phát triển KH&CN, làm cho một địa phương trở thành một trung tâm KH&CN cần phải kích thích sự hình thành nhiều tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực KHCN nhằm cung cấp các giải pháp thực tế mang tính sáng tạo phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội. Mặt khác phải đồng thời truyền bá, khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp tích cực áp dụng các thành tựu KH&CN để nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất và kinh doanh.

Một địa phương được xem như là trung tâm KH&CN của cả nước hay của khu vực nếu các thành tựu KH&CN của địa phương đó được ứng dụng lan tỏa trong cả nước hay khu vực.

Thừa Thiên Huế là địa phương có nhiều trường đại học , có nhiều nhà khoa học, có các công trình nghiên cứu cơ bản, được đánh giá cao trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Người Huế có truyền thống hiếu học, cần cù, chăm chỉ, chịu khó. Các trường đại học của Huế đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, hàng năm đào tạo hàng ngàn sinh viên ra trường cho nhiều địa phương khác nhau. Thừa Thiên Huế có không gian yên tĩnh, nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử; môi trường trong xanh; an ninh trật tự được giữ vững; tính cách con người ổn định phù hợp với môi trường làm khoa học.

Tuy nhiên Thừa Thiên Huế cũng còn gặp không ít khó khăn: kinh tế - xã hội chưa phát triển, từ đó kinh phí đầu tư cho phát triển KH&CN, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực KH&CN còn thấp; các doanh nghiệp chưa ý thức đầu tư ứng dụng KH&CN; tỉnh chưa có các thành tựu nổi bật trong lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật; các học sinh giỏi thường đi đến các thành phố lớn trong nước để học tập và làm việc và đặc biệt sự quan tâm của chính quyền đối với đội ngũ làm KH&CN chưa nhiều.

Trong bối cảnh như thế, các chủ trương, chính sách đi kèm với quyết tâm đầu tư ứng dụng và phát triển KH&CN của lãnh đạo tỉnh là hết sức quan trọng.

Chúng ta biết rằng KH&CN gắn với tri thức và kỹ năng của các nhà khoa học, các chuyên gia cho nên người làm khoa học là nhân tố cơ bản của sự phát triển. Không thể trở thành một trung tâm KH&CN nếu các nhà khoa học ở nơi đó có cuộc sống vật chất thiếu thốn, thiếu động lực và không có một môi trường làm việc tốt. Bởi vậy nếu quyết tâm phát triển thành một trung tâm KH&CN, cần lưu ý các yếu tố:

- Sự quan tâm của lãnh đạo với đội ngũ tri thức. Phải trân trọng, biết sử dụng, đặt họ vào những vị trí thích hợp để họ có cơ hội cống hiến. Các nhà lãnh đạo phải thường xuyên gặp mặt, động viên, khuyến khích các nhà khoa học và theo dõi các nỗ lực sáng tạo các sản phẩm KH&CN của họ để hỗ trợ kịp thời.

- Đầu tư cho KH&CN là đầu tư cho sự tăng trưởng. Sau khi xác định các lĩnh vực và phạm vi đầu tư, cần cung cấp nguồn lực đủ để phát triển chứ không nên đầu tư nhỏ giọt. KH&CN chỉ phát triển mạnh và bền vững nếu thực sự vượt qua một ngưỡng nhất định. Trong khoa học, không thể một sớm một chiều là có thể đạt ngay được các thành tựu nổi bật. Phải biết nuôi dưỡng và kiên trì chờ đợi sự phát triển. Các kết quả KH&CN cần phải có thời gian để kiểm nghiệm, người làm khoa học cần có thời gian để trưởng thành. Ở đây sự phát triển nhanh mâu thuẫn với phát triển bền vững.

- Sự phát triển KH&CN phải đồng bộ với sự phát triển của văn hóa – xã hội, nhận thức và năng lực của con người, cơ sở hạ tầng, luật pháp… Cho nên xây dựng một trung tâm KH&CN cũng phải đồng thời nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Chỉ có thể trở thành một trung tâm KH&CN nếu xã hội đã phát triển ở mức cao với các mối quan hệ hài hòa từ rất nhiều lĩnh vực.

Vai trò của công nghệ thông tin trong một trung tâm KH&CN

CNTT là tập hợp các quan điểm và phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm nghiên cứu, tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và đầy tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội (UNESCO).

CNTT từ lâu đã được biết đến như là một công cụ hiện đại giúp tăng tốc các hoạt động tổ chức, quản lý hay sản xuất, kinh doanh. CNTT thâm nhập vào mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, là mạch máu của nền kinh tế, là phương tiện hội nhập với thế giới. CNTT làm thay đổi phương thức học tập, các mối quan hệ. CNTT làm biến đổi cách thức tổ chức quản lý của các chính phủ và của các doanh nghiệp. CNTT đã thay đổi cách suy nghĩ và hành động của mọi người trên thế giới và làm phẳng các dị biệt.

CNTT phát triển sôi động từng ngày, từ một lĩnh vực KH&CN đã nhanh chóng phát triển thành một ngành kinh tế - kỹ thuật. CNTT không những là công cụ hỗ trợ hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội mà chính nó còn là một ngành kinh tế đóng góp lớn vào GDP của nhiều nước. Với chức năng thu thập, xử lý, lưu trữ, truyền tải dữ liệu thông qua các bộ vi xử lý mạnh, CNTT còn là công nghệ nền tảng để phát triển các công nghệ khác. Các phương tiện CNTT như là các thiết bị điện tử được điều khiển bởi phần mềm đã trợ giúp cho rất nhiều ngành KH&CN khác phát triển. Chẳng hạn, ngành y mà không có các thiết bị y tế chuyên dùng cao cấp như máy chụp cắt lớp, máy chụp cộng hưởng từ thì các bác sĩ sẽ rất khó khăn trong việc chẩn đoán bệnh tật. Các phương tiện trợ giúp y khoa đó và rất nhiều thiết bị tích hợp trong các lĩnh vực khác sẽ không thể có được nếu không có CNTT. Tận dụng tốt các thành tựu KH&CN của thế giới, việc đầu tư cho CNTT hiện nay không còn là đầu tư cho các phòng thí nghiệm với các thiết bị đắt tiền mà là đầu tư cho các giải pháp. Với đặc điểm như vậy CNTT cần được xác định là lĩnh vực KH&CN cần được ưu tiên đầu tư trong số các ngành KHCN được chọn để làm cho Thừa Thiên Huế nhanh chóng trở thành trung tâm KH&CN của cả nước và khu vực như Kết luận 48 của Bộ Chính trị.

Các lĩnh vực KH&CN khác cần được đầu tư tiếp theo phụ thuộc vào mục tiêu phát triển của tỉnh phù hợp với nhu cầu và điều kiện hiện tại. Các lĩnh vực này cần được các nhà lãnh đạo hay nhà khoa học trong từng lĩnh vực nêu ra cùng với các mục tiêu cụ thể.

Như đã trình bày trong phần trên, CNTT với vai trò là một ngành KH&CN nền tảng, cần được phần thành hai lĩnh vực ứng dụng và phát triển:

- Nói đến ứng dụng CNTT tại một địa phương là muốn nói đến phần lớn các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức của địa phương tích cực, chủ động đưa các ứng dụng CNTT vào mọi mặt hoạt động của đơn vị mình nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả quản lý, sản xuất, kinh doanh góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

- Nói đến phát triển CNTT tại một địa phương là nói đến việc tồn tại nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT. Các doanh nghiệp này tổ chức nghiên cứu, phát triển các ứng dụng CNTT cho các cơ quan, doanh nghiệp khác hoặc sản xuất, kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ CNTT tạo ra doanh thu cao góp phần đáng kể vào GDP của địa phương.

Ứng dụng và phát triển CNTT tại một địa phương thường có mối quan hệ hữu cơ: Phát triển CNTT tốt thì mới có đủ nhân lực, công nghệ để tổ chức xây dựng thành công các ứng dụng CNTT và ngược lại, tổ chức thực hiện các dự án ứng dụng CNTT để thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực, kích thích hình thành các doanh nghiệp CNTT.

Các đề xuất về hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT cho Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh được đánh giá là ứng dụng tốt CNTT trong lĩnh vực tin học hóa quản lý hành chính nhà nước. Trong nhiều năm liền tỉnh Thừa Thiên Huế có chỉ số sẵn sàng phát triển và ứng dụng CNTT- truyền thông (ICT Index) ở top 5 của cả nước. Tỉnh Thừa Thiên Huế được Bộ Chính trị xác định trong vài năm tới sẽ là thành phố trực thuộc trung ương, là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch; KH&CN, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao. Trong nhiều năm liền, Thừa Thiên Huế xác định CNTT là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, đã và đang đồng thời đẩy mạnh hai hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT.

Các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội cần ứng dụng CNTT

Phát huy các thành tựu đã đạt được, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng và phát triển CNTT ở Thừa Thiên Huế nhằm làm cho CNTT thực sự thúc đẩy phát triển KH&CN và các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội. Chúng ta cần xác định một số lĩnh vực đặc biệt, xem như là điểm nhấn, để ưu tiên tổ chức các ứng dụng CNTT làm tiền đề cho sự phát triển. Nên tập trung đầu tư mạnh vào các lĩnh vực này trong một chu kỳ 5 năm sao cho các kết quả đạt được là nền tảng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển tiếp theo của chính CNTT.

Các lĩnh vực nào không cần sự can thiệp của chính quyền vẫn có động lực để phát triển thì chỉ cần có các chính sách thích hợp, chẳng hạn doanh nghiệp vì lợi ích của chính mình sẽ tự ứng dụng CNTT để tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất và kinh doanh mà không cần có sự hỗ trợ từ các dự án của chính quyền.

Đối với Thừa Thiên Huế, về góc độ quản lý nhà nước, cần phải ưu tiên hàng đầu cho các chương trình tin học quản lý hành chính nhà nước - khởi đầu của chính quyền điện tử (EGoverment). Tiếp theo cần ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực đã trở thành thế mạnh của tỉnh. Các lĩnh vực này cần sự tiếp sức của CNTT để phát triển vượt trội tạo bước phát triển về chất nhằm mang lại giá trị gia tăng cao. Các lĩnh vực có thế mạnh của Thừa Thiên Huế được Kết luận 48 của Bộ Chính trị lưu ý là văn hóa – du lịch, KH&CN, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực. Đây chính là các lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư các ứng dụng CNTT.

Vẫn phải đầu tư cho các lĩnh vực không phải là các điểm nhấn nhưng không tập trung đầu tư dưới dạng các dự án lớn.

Mục tiêu ứng dụng và phát triển CNTT tại Thừa Thiên Huế đến năm 2020

Mục tiêu tổng thể: là đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT ở Thừa Thiên Huế nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội, làm cho CNTT trở thành nền tảng KH&CN của một trung tâm KH&CN và thành phố trực thuộc trung ương phát triển vững mạnh trong tương lai.

Nếu nhìn theo hai khía cạnh ứng dụng và phát triển thì mục tiêu trên được phân ra thành:

- Tổ chức thành công các ứng dụng CNTT cho các lĩnh vực văn hóa – du lịch, y tế, giáo dục – đào tạo – là các lĩnh vực ưu tiên trong lộ trình phát triển Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc trung ương.

- Phấn đấu đến năm 2020 sẽ đưa CNTT thành ngành công nghiệp mạnh và bền vững của tỉnh.

Các nội dung chủ yếu ứng dụng và phát triển CNTT

Tổ chức các hoạt động ứng dụng CNTT

Cần xác định 4 yếu tố chủ yếu phải đầu tư đồng bộ trong các ứng dụng CNTT để tăng hiệu quả các hoạt động là hạ tầng kỹ thuật CNTT (phần cứng), các tài nguyên thông tin (cơ sở dữ liệu), các phân hệ thông tin (phần mềm) và nhân lực (đào tạo kỹ năng ứng dụng và phát triển CNTT).

Về hạ tầng kỹ thuật CNTT, phải quan tâm xây dựng mạng diện rộng dùng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các cơ quan Đảng và cơ quan quản lý nhà nước. Mạng diện rộng nối các đơn vị nhà nước với nhau là nền tảng hạ tầng quan trọng để trên đó phát triển các ứng dụng tin học hóa quản lý nhà nước và chia sẻ các tài nguyên thông tin chung.

Về tài nguyên thông tin, phải nhanh chóng xây dựng các cơ sở dữ liệu quan trọng của tỉnh nhằm góp phần vào việc quản lý và ra các quyết định như cơ sở dữ liệu dân cư, tài nguyên, địa lý, luật pháp, thông tin KH&CN, văn hóa – du lịch. Cần lưu ý sau khi hình thành các cơ sở dữ liệu, phải tổ chức cập nhật các cơ sở dữ liệu này thường xuyên. Thông qua dự án GISHue, chúng ta đã bước đầu có một hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin địa lý quan trọng. Đó là một tài sản lớn. Cần phải chia sẻ và khai thác các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý này thông qua các ứng dụng cụ thể và đặc biệt cần có quy trình tổ chức cập nhật liên tục các dữ liệu này để các đầu tư trong thời gian qua thực sự phát huy tác dụng.

Về các phần mềm, cần tập trung xây dựng các phần mềm tin học hóa quản lý nhà nước có sự tích hợp các ứng dụng và các cơ sở dữ liệu từ các cơ quan quản lý cấp tỉnh đi dần xuống cấp huyện, xã; chú trọng dịch vụ công hóa các thủ tục hành chính trên mạng nhằm hình thành chính quyền điện tử mọi lúc, mọi nơi. Cần đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong tổ chức và quảng bá du lịch vì đây là phương tiện hiệu quả nhất để đưa thông tin ra thế giới. Tổ chức các chợ điện tử, các sàn giao dịch thương mại điện tử, trước mắt là trong lĩnh vực văn hóa – du lịch. Xây dựng Huế thành thành phố festival điện tử - mà thể hiện nổi bật nhất là trong các kỳ Festival Huế - với các ứng dụng CNTT cao cấp như tham quan các di tích lịch sử ảo, đăng ký, đặt hàng, thanh toán qua mạng…

Về nhân lực CNTT, cần phải xây dựng các chức danh lãnh đạo thông tin (CIO) trong các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức đội ngũ lãnh đạo và chuyên viên CNTT của các sở ban ngành có mối quan hệ gắn kết với nhau, nhanh chóng làm cho CNTT thực sự là một ngành trong các cơ quan quản lý nhà nước, chẳng hạn tổ chức giao ban hàng quý với các thành phần lãnh đạo và chuyên viên CNTT ở mỗi cơ quan, đơn vị nhà nước và các doanh nghiệp tiêu biểu. Để có được các ứng dụng CNTT hiệu quả, thiết thực cần mời các chuyên gia giỏi về địa phương làm công tác tư vấn hay tổ chức xây dựng các ứng dụng CNTT quan trọng. Cần tổ chức đào tạo ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực ưu tiên.

Tổ chức các hoạt động phát triển CNTT

Phát triển CNTT, nói một cách đơn giản, là tổ chức phát triển CNTT thành một ngành công nghiệp, tức là một ngành kinh tế. Nói đến ngành công nghiệp trong một lĩnh vực có nghĩa là có nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này với doanh thu cao. Đầu tư cho CNTT, đặc biệt là phần mềm, vẫn còn là đầu tư cho sự tăng trưởng. Chính vì thế phải có các cơ chế, chính sách thúc đẩy, kích thích các doanh nghiệp CNTT hình thành và phát triển. Ngoài ra để có các bước đột phá về phát triển CNTT cần có các chính sách ưu đãi về đầu tư để thu hút các doanh nghiệp CNTT trong và ngoài nước đến với địa phương. Đối vớ các doanh nghiệp CNTT trong tỉnh, chính quyền phải đặt hàng trong mỗi lĩnh vực để kích cung. Việc đặt hàng phải có kế hoạch lâu dài để doanh nghiệp yên tâm đầu tư nghiên cứu và phát triển, chẳng hạn các giải pháp tin học hóa quản lý hành chính nhà nước. Đối với các doanh nghiệp CNTT còn non trẻ, cần hỗ trợ họ thông qua các vườn ươm, các chính sách kích cầu để bước đầu tạo công ăn việc làm, giúp họ tồn tại và cọ xát với thực tế để phát triển.

Cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, tổ chức các khu công nghiệp CNTT tập trung, các công viên phần mềm để tạo thuận lợi bước đầu cho các nhà đầu tư. Trước mắt, trong khi chờ đợi xây dựng các khu CNTT tập trung quy mô lớn, cần hình thành các công viên phần mềm không xa trung tâm của tỉnh để dần dần lôi kéo các doanh nghiệp có thương hiệu về CNTT trong và ngoài nước đến đầu tư. Chính bản thân họ sẽ là những người tự phát triển, đầu tư cho những khu CNTT tập trung tương lai.

Phải xây dựng các cơ chế chính sách hội tụ nhân lực để giữ lại các sinh viên và chuyên viên giỏi về CNTT, lôi kéo chuyên gia CNTT từ các nơi khác về thông qua các ưu đãi về quyền lợi, lương bổng.

Để phát triển ngành công nghiệp CNTT, Thừa Thiên Huế cần tổ chức sản xuất sản phẩm và cung cấp các dịch vụ CNTT gì? Do nhu cầu phát triển của xã hội, do thế mạnh nhân lực của Thừa Thiên Huế, các loại hình sản phẩm và dịch vụ trong ngành công nghiệp CNTT của tỉnh nên là: đào tạo cung cấp đội ngũ nhân lực CNTT chuyên nghiệp có đủ tri thức và kỹ năng nắm bắt các công nghệ mới, có tác phong công nghiệp như làm việc theo nhóm (teamwork), có tinh thần kỷ luật, tư duy sáng tạo; lắp rắp trang thiết bị CNTT, nghiên cứu, sản xuất các thiết bị tích hợp; làm phần mềm gia công; sửa chữa, vận hành, lập trình cho các thiết bị chuyên ngành (chẳng hạn các thiết bị y tế); xây dựng các giải pháp tổng thể tin học hóa quản lý nhà nước và doanh nghiệp (chính quyền điện tử và thương mại điện tử); thiết kế hạ tầng CNTT cho các cơ quan, doanh nghiệp; phát triển các sản phẩm nội dung số thông qua các hoạt động thương mại điện tử hay tổ chức các dịch vụ cung cấp nội dung thông tin.

Xây dựng các chủ trương chính sách về CNTT

Các hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của một địa phương chỉ có thể phát triển bền vững thông qua một hệ thống các chủ trương chính sách được xây dựng một cách đồng bộ và được tuân thủ như là yếu tố chiến lược. Cần tách biệt các chính sách cho ứng dụng CNTT và phát triển CNTT nhưng hai loại chính sách này không được mâu thuẫn mà phải hỗ trợ và thúc đẩy nhau. Các chính sách này là yêu cầu phải làm đầu tiên và cần được tổ chức nghiên cứu, xây dựng như là yếu tố chiến lược trong nhiều nhiệm kỳ và cần được bổ sung, phát triển qua các chu kỳ 5 năm và hàng năm. Một trong những chủ trương quan trọng là cần bảo đảm cung cấp đủ nguồn lực cho các dự án ứng dụng và phát triển CNTT.

Cần quan tâm các chính sách sau về phát triển CNTT:

- Để có các bước đột phá về phát triển CNTT cần có các chính sách ưu đãi về đầu tư để thu hút các doanh nghiệp CNTT trong và ngoài nước đến với địa phương. Muốn thu hút các doanh nghiệp CNTT cần chuẩn bị sẵn cơ sở hạ tầng (thường là các khu công nghiệp CNTT tập trung, công viên phần mềm) và đội ngũ CNTT có chất lượng cao và có chính sách cung cấp các nguồn lực này.

- Đầu tư cho CNTT, đặc biệt là phần mềm, vẫn còn là đầu tư cho sự tăng trưởng. Chính vì thế phải có các cơ chế, chính sách thúc đẩy, kích thích các doanh nghiệp CNTT hình thành và phát triển. Trong giai đoạn đầu cần hình thành các đơn vị CNTT của nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau với sự đầu tư đủ để kích cung. Các đơn vị CNTT của nhà nước cần phải được phân công nhiệm vụ rõ ràng, tránh chồng chéo trong các hoạt động. Cần kích thích sự hình thành các doanh nghiệp CNTT tại địa phương thông qua các chính sách thuế, thuê mặt bằng, đặt hàng…

- Có các cơ chế chính sách hội tụ nhân lực để giữ lại các sinh viên và chuyên viên giỏi về CNTT, lôi kéo chuyên gia CNTT từ các nơi khác về thông qua các ưu đãi về quyền lợi, lương bổng hay thuê các chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm.

- Có các chính sách đào tạo đội ngũ CNTT chuyên nghiệp để sẵn sàng cung cấp nhân lực cho các doanh nghiệp CNTT muốn đầu tư ở địa phương.

Cần quan tâm các chính sách sau về ứng dụng CNTT:

- Đối với các doanh nghiệp CNTT trong tỉnh, chính quyền phải đặt hàng trong mỗi lĩnh vực để kích cung. Việc đặt hàng phải có kế hoạch lâu dài để doanh nghiệp yên tâm đầu tư nghiên cứu và phát triển. Lĩnh vực cần được ưu tiên là chính quyền điện tử.

- Đối với các doanh nghiệp CNTT còn non trẻ, cần hỗ trợ họ thông qua các vườn ươm, các chính sách kích cầu để bước đầu tạo công ăn việc làm, giúp họ tồn tại và cọ xát với thực tế để phát triển.

Tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình hành động

Các mục tiêu và các nội dung ứng dụng và phát triển CNTT được nêu ở trên phải được hiện thực hóa qua các chương trình hay các dự án lớn được đầu tư mạnh mẽ với các nguồn lực được cung cấp đầy đủ như sau:

- Các dự án ứng dụng CNTT: Để thực sự đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT, cần tổ chức xây dựng các dự án lớn với chu kỳ 5 năm cho các lĩnh vực quan trọng mà sự phát triển của chúng sẽ làm tiền đề cho sự phát triển các lĩnh vực khác: Dự án xây dựng hệ thống văn bản về các chủ trương chính sách cho ứng dụng CNTT; Dự án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước mỗi 5 năm (các giai đoạn 2011-2015, 2016-2020, 2021-2025,…); Dự án thành phố festival điện tử giai đoạn 2011-2015; Dự án thành phố giáo dục điện tử giai đoạn 2016-2020; Dự án thành phố y tế điện tử giai đoạn 2021-2025.

Việc xây dựng các dự án ứng dụng CNTT theo từng lĩnh vực và không đồng thời mà kế tục nhau theo các chu kỳ 5 năm là do độ sẵn sàng trong việc ứng dụng CNTT trong từng lĩnh vực và để phát huy hợp lý nguồn lực hiện có của tỉnh. Nói như thế không phải là trong mỗi chu kỳ 5 năm chúng ta chỉ tập trung một lĩnh vực mà không làm gì cả đối với các lĩnh vực còn lại. Các lĩnh vực này cũng sẽ được đầu tư hàng năm dưới dạng các hoạt động hay các dự án nhỏ khác.

- Các dự án phát triển CNTT: Để thúc đẩy sự phát triển CNTT thành một ngành kinh tế, cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp CNTT tồn tại và phát triển mạnh ở Huế thông qua các dự án lớn: Dự án xây dựng hệ thống văn bản về các chủ trương chính sách cho phát triển CNTT; Dự án hình thành ngành công nghiệp CNTT tại Thừa Thiên Huế vào năm 2020; Dự án công viên phần mềm; Dự án khu CNTT tập trung; Dự án tổ chức đào tạo chuyên viên CNTT chuyên nghiệp.

Đây là các dự án ban đầu làm nền tảng. Sau khi các dự án này phát huy hiệu quả, cần phải hình thành thêm các dự án thúc đẩy sự phát triển trong từng ngành công nghiệp phần cứng, phần mềm, nội dung số…

Phần kết luận

Xây dựng Thừa Thiên Huế thành một trung tâm KH&CN là một nhiệm vụ lâu dài, có sự quyết tâm đầu tư mạnh mẽ của chính quyền và phải phát triển đồng bộ với rất nhiều lĩnh vực khác, trong đó quan trọng nhất là yếu tố đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Cần xem xét các hoạt động KHCN dựa trên hai khía cạnh ứng dụng và phát triển.

Trong các lĩnh vực KH&CN cần phải đầu tư, CNTT giữ vị trí quan trọng. Về vai trò, CNTT là nền tảng của các lĩnh vực KH&CN khác. Về mặt ứng dụng, CNTT thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực đã trở thành thế mạnh để từ đó tạo sự bứt phá để phát triển.

Các lĩnh vực quan trọng cần phải được tập trung đầu tư ứng dụng CNTT ở Thừa Thiên Huế là quản lý hành chính nhà nước, văn hóa – du lịch, y tế và giáo dục – đào tạo. Các lĩnh vực này phát triển sẽ là động lực để thúc đẩy phát triển các lĩnh vực khác. Về phát triển CNTT, phấn đấu hình thành ngành công nghiệp CNTT trước năm 2020.

Trong 5 năm tới, việc tổ chức tốt các hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT như khung chương trình hành động trên sẽ là bước khởi đầu để dần dần hình thành một ngành kinh tế của Thừa Thiên Huế như báo cáo chính trị đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã xác định. Khi đó CNTT sẽ trở thành một thành phần KH&CN chủ yếu của một trung tâm KH&CN. CNTT sẽ là công cụ quản lý hữu hiệu của chính quyền điện tử, là phương tiện quảng bá hiệu quả văn hóa – du lịch, trong tương lai là phương tiện học tập, đào tạo và khám chữa bệnh. CNTT sẽ thực sự thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội và mang lại GDP lớn cho địa phương.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Dấu ấn Mặt trận trong thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Thực hiện sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp và các quy định về quyền và trách nhiệm của MTTQ VN, MTTQ VN các cấp đã chủ động, tích cực, sáng tạo, linh hoạt phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đã tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 -2031, bảo đảm thời gian, đúng quy định của pháp luật.
Trung tâm SUDECOM khởi động dự án hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số tại tỉnh Lào Cai
Ngày 7/4, tại tỉnh Lào Cai, Đoàn công tác của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tham dự Hội nghị triển khai dự án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo việc làm cho thanh niên cộng đồng các dân tộc miền núi tại tỉnh Lào Cai” của Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM).
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tiếp cận mới trong chăm sóc sức khỏe người trẻ
Sáng ngày 10/4, tại Trường Cao đẳng Bình Thuận, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Trường Cao đẳng Bình Thuận tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tác động của nhịp thở có kiểm soát lên biến thiên nhịp tim (HRV) và nồng độ Cortisol huyết thanh ở người trẻ”.
Vĩnh Long: Hội thi Trần Đại Nghĩa là "người dẫn đường" cho phong trào khoa học công nghệ của tỉnh
Trong bối cảnh toàn quốc đang quyết tâm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (STKT) Trần Đại Nghĩa đã không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, từ khâu tuyên truyền đến hỗ trợ tác giả, nhằm tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngay tại cơ sở.
Đắk Lắk: Hướng đi xanh từ thủy sản và vỏ dứa
Từ những phụ phẩm tưởng chừng phải bỏ đi trong ngành thủy hải sản và chế biến hàng thủy sản, có một giải pháp kỹ thuật đã mở ra hướng đi mới: sản xuất phân bón hữu cơ sinh học giàu đạm, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững và giảm áp lực môi trường.
Khởi động Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026: Lan tỏa tinh thần sáng tạo STEM trong học sinh
Sáng 11/4, tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) phối hợp cùng Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (Samsung) tổ chức Lễ khởi động Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026. Đây là sân chơi sáng tạo quy mô toàn quốc dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, hướng tới thúc đẩy tư duy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thế hệ trẻ.
Tuyên Quang: Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
Chiều ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các sở, ban ngành, UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hội tỉnh.
Quảng Trị: Tập huấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo
Ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội nghị “Tập huấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo” với mục tiêu nâng cao nhận thức về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, các hội thành viên trong thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại địa phương.
Hải Phòng: Tập huấn nâng cao năng lực cho tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong hai ngày 02 - 03/4, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố đã tổ chức khoá đào tạo “Nâng cao năng lực cho tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua thông qua chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hướng đến cải thiện nâng suất và việc làm thỏa đáng”.