Ung thư tinh hoàn bệnh có thể chữa khỏi
Ung thư tinh hoàn thường xảy ra ở người da trắng, ít gặp ở người châu Phi và châu Á, thường gặp nhất giữa tuổi 15 và 35, và chiếm 1 – 2% trong toàn bộ tăng sinh ác tính nam, gây đến 12% tử vong đối với mọi ung thư trên bệnh nhân từ 20 – 35 tuổi. Ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê chính thức nhưng theo ghi nhận tại các Trung tâm ung thư thì ung thư tinh hoàn là bệnh gặp thường xuyên.
Nguyên nhân chính xác gây ung thư tinh hoàn đến nay chưa được xác định. Các yếu tố nguy cơ gây ra gồm:
- Tinh hoàn không xuống bìu như bình thường mà còn ẩn trong ổ bụng. Bình thường, tinh hoàn sẽ di chuyển xuống bìu trước khi trẻ trai được sinh ra hoặc chậm nhất là 3 tháng sau khi sinh. Theo một số tác giả, tiền sử tinh hoàn ẩn có tần suất ung thư tinh hoàn gấp 40 – 70 lần dù đã phẫu thuật đem tinh hoàn xuống bìu hay chưa.
- Hội chứng Klinefelter: đây là một rối loạn về di truyền ảnh hưởng trên trẻ em nam. Bình thường, trẻ nam có 1 nhiễm sắc thể X và 1 nhiễm sắc thể Y, trong hội chứng Klinefelter trẻ nam có ít nhất 2 nhiễm sắc thể X (một số hiếm các trường hợp có đến 3 hoặc 4 nhiễm sắc thể X).
- Tiền sử gia đình có người đã bị ung thư tinh hoàn.
Trong thực tế lâm sàng, phần lớn người bị ung thư tinh hoàn không có một yếu tố nguy cơ nào.
Biểu hiện khi bị ung thư tinh hoàn
Người bị ung thư tinh hoàn phần lớn do tự phát hiện khi thấy có khối u trong bìu hoặc do bác sĩ khám phát hiện trong khám sức khoẻ định kỳ. Có nhiều vấn đề khác gây ra triệu chứng giống như ung thư tinh hoàn.
Theo các chuyên gia, tất cả bướu của tinh hoàn cần được xem là ung thư trừ khi được chứng minh ngược lại. Đau ở tinh hoàn là triệu chứng thường gặp (khoảng 1/5 các trường hợp). Có thể gặp triệu chứng vú to do u sản xuất nhiều hormon.
Cần thiết làm các xét nghiệm hình ảnh học và xét nghiệm máu để chẩn đoán (AFP, HCG, LDH, Phosphatase kiềm…). Siêu âm và chụp cắt lớp điện toán sẽ giúp chẩn đoán ung thư tinh hoàn cũng như việc có hay không di căn đến nơi khác trong cơ thể. Siêu âm giúp phân biệt giữa tinh hoàn với u mào tinh, tràn dịch tinh mạc, nang tinh, xoắn tinh hoàn và thoát vị bẹn.
Về mặt giải phẫu bệnh học thì ung thư tinh hoàn gồm các dạng: ung thư tế bào mầm (seminoma, phôi, teratocarcinoma, teratoma, choriocarcinoma); u mô đệm (tế bào Leydig, tế bào Sertoli, tế bào hạt) và u thứ phát do di căn (lymphoma, melanoma, ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến).
![]() |
Điều trị
Phần lớn những người bị ung thư tinh hoàn cần phải phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn ngay sau khi chẩn đoán. Sau khi cắt bỏ khối ung thư sẽ xét nghiệm tế bào học nhằm xác định týp tế bào ung thư, từ đó sẽ có phác đồ điều trị phù hợp.
Việc điều trị sau khi phẫu thuật bao gồm:
- Theo dõi sát:Bạn cần khám định kỳ để được xem xét diễn tiến xảy ra. Trong thời gian theo dõi phải tự kiểm tra để chắc chắn ung thư đã lui.
- Hoá trị liệu:thuốc điều trị hiện nay có hiệu quả cao có thể tiêu diệt bất kỳ loại tế bào ung thư nào và nhất là sau khi phẫu thuật nếu tế bào ung thư còn sót lại. Hoá trị liệu bắt buộc khi ung thư di căn đến một số nơi trong cơ thể. Thậm chí có khi phải hoá trị trước khi phẫu thuật.
- Xạ trị:dùng liều cao tia xạ để phá huỷ tế bào ung thư. Thường dùng để điều trị trong một số thể ung thư tinh hoàn. Xạ trị liệu pháp có thể phải sử dụng trong trường hợp ung thư đã di căn.
Ung thư tinh hoàn có cơ hội rất lớn được chữa khỏi hoàn toàn nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Thậm chí một số trường hợp phát hiện ở giai đoạn trễ cũng có thể điều trị hiệu quả.
Cuộc sống sau khi cắt bỏ tinh hoàn
Trong phần lớn các trường hợp, cắt bỏ tinh hoàn một bên trong ảnh hưởng tình dục hoặc ngăn chặn khả năng sinh con, chỉ làm xấu hơn những vấn đề đã có trước khi phẫu thuật. Nên trao đổi với bác sĩ điều trị về tất cả những ưu tư, thắc mắc của bản thân về bệnh tật, các vấn đề tình dục cũng như chuyện sinh con. Một số người chọn việc lắp đặt tinh hoàn nhân tạo nhằm mục đích thẩm mỹ, phẫu thuật này tương đối đơn giản và phổ biến.
Không giống như các loại ung thư khác, phần lớn ung thư tinh hoàn tiến triển chậm và đáp ứng tốt với điều trị hoá chất và tia xạ sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối ung thư. Nhưng tất cả các điều trị này đều gây ra những tác dụng phụ không mong muốn. Theo thời gian tác dụng phụ sẽ giảm đi và biến mất, tác dụng phụ kéo dài thì hiếm gặp.









