Ứng phó với động đất và sóng thần
Những khả năng “mực nước dâng cao” do biến đổi khí hậu toàn cầu đã đến kề cận! Tai họa khác nhau nhưng biện pháp chống đỡ gần như giống nhau. Chủ động tìm các giải pháp, công nghệ, vật liệu xây dựng… để ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất về thiệt hại do các thảm họa trên là vô cùng cần thiết.
Theo gợi ý của Sở Tài nguyên và Môi trường Tp Hồ Chí Minh, người viết bài này xin đóng góp một số ý kiến như sau:
1/ Công nghệ EVG – 3D panel
Trong xây dựng để “chống lại động đất và sóng thần” cũng như chống lại gió, bão, lũ lụt… chúng tôi cho rằng, trong điều kiện của nước ta, ứng dụng công nghệ EVG -3D panel là hữu hiệu hơn cả, do các ưu điểm sau: thi công nhanh, giá thành hạ, chất lượng cao. Đây là công nghệ xuất phát từ nước Cộng hòa Áo và đã được chuyển giao công nghệ vào Việt Nam .
Với công nghệ EVG -3D panel, công trình có thể chịu được bão có cường độ 300 km/h; chịu được động đất trên 7,5 richter; chịu được nhiệt độ cao 1.000 0C trong 1 giờ; cách âm, cách nhiệt rất tốt; dễ tạo dáng cho nhà kiến trúc; không cần dầm, nên cùng chiều cao số tầng nhiều hơn.
Nếu dùng EVG -3D panel xây dựng các công trình cao khoảng 7 tầng trở lên thì trọng lượng của công trình có thể giảm đến 40%, giá thành phần thô sẽ rẻ hơn không dưới 20%, nhưng nếu xây dựng biệt thự (1 – 2 tầng) thì giá thành tương đương với xây dựng truyền thống.
Nguyên liệu để sản xuất panel 3D, nước ta không thiếu: thép kéo nguội (f2 -f3,8) mạ kẽm; hạt polysterene để sản xuất xốp, công nghiệp hóa dầu ra đời sẽ không thiếu; xi măng; phụ gia… hoàn toàn sản xuất được trong nước.
Một số doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nhập thiết bị lẻ (rẻ hơn nhiều) để sản xuất panel 3D. Ngay trong nước cũng đã có cơ sở sản xuất thiết bị để sản xuất panel 3D, rất cần được sự hỗ trợ của Nhà nước.
Công nghệ EVG -3D panel có rất nhiều tính vượt trội, phù hợp với điều kiện của nước ta. Vậy vì sao bạn đã chào hàng từ năm 1992 tới nay mà vẫn chưa trở thành công nghệ phổ biến? Bởi giá thành thiết bị toàn bộ, kể cả chuyển giao công nghệ khác sao (10 – 11 triệu USD). Nếu chỉ sản xuất ra panel rồi bán cho các doanh nghiệp xây dựng thì thu hồi vốn rất chậm, nâng giá thành sẽ khó thu hút được khách hàng. Chính vì vậy mà nhà sản xuất panel 3D ở Huế đưa vào sử dụng đã được nhiều năm rồi nhưng vẫn chưa mở rộng được. Mặc dù “ý đồ ban đầu” của nhà đầu tư là sẽ xây dựng nhà máy ở cả 3 miền đất nước.
Chúng tôi cho rằng đầu tư sản xuất EVG -3D panel sẽ có lãi lớn với điều kiện là “doanh nghiệp đó phải có đủ năng lực” triển khai từ A tới Z. Sản phẩm cuối cùng là “công trình” chứ không phải là panel. Tp. Hồ Chí Minh hoàn toàn có đủ năng lực và thị trường để tiếp thu và ứng dụng công nghệ này.
2/ Sản xuất sỏi nhẹ Keramzit và bê tông Keramzit
![]() |
Sỏi nhẹ keramzit |
Thế giới biết sử dụng Keramzit từ hơn 100 năm qua, nhiều nhất là Nga và Mỹ. Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam nằm trên vùng đất yếu, xây nhà cao tầng rất tốn kém trong việc xử lý nền móng, cho nên tìm được vật liệu nhẹ trong xây dựng sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Nguồn nguyên liệu để sản xuất sỏi Keramzit ở phía Nam rất phong phú, chất lượng cao, hệ số nở lớn (7 – 8 lần). Một số mỏ “đá phiến sét” ở Đồng Nai, Bình Dương có trữ lượng cho phép khai thác 50 – 70 năm để sản xuất 1 triệu m3/ năm. Một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhất là An Giang cũng có sét keramzit. Sản xuất thành sỏi theo phương pháp vo viên, trộn thêm phụ gia dãn nở.
Đầu tư sản xuất sỏi keramzit không quá phức tạp, thiết bị, lò nung… hoàn toàn có thể gia công trong nước. Lợi thế ở phía Nam là có nguồn khí đồng hành, cần bố trí nhà máy gần nơi có thể sử dụng khí đồng hành (Vũng Tàu, Cà Mau…), giá thành sẽ thấp hơn so với dùng dầu FO.
Các nước Đông Nam Á có trên 20 nhà máy sử dụng sỏi Keramzit để sản xuất tấm tường theo công nghệ của Phần lan ACOTEC, song sỏi nhẹ đều phải nhập khẩu. Tổ chức sản xuất sỏi nhẹ Keramzit với “giá thành cạnh tranh” thì có thể tham gia xuất khẩu.
Sử dụng sỏi và bê tông keramzit vào việc xây dựng, nhờ giảm nhẹ phần xử lý móng, xây dựng sẽ nhanh hơn, cho nên giá thành xây dựng phần thô có thể giảm 20 – 30%.
3/ Puzolan
Ở các tỉnh phía Nam có nhiều ở Đồng Nai (Bến Tấn), Bà Rịa - Vũng Tàu (Mui Rùa, Núi Đất), dùng làm phụ gia sản xuất xi măng bền sulfat, sản xuất gạch không nung, bê tông xốp… Theo chúng tôi là nên kết hợp trang bị thêm cho nhà máy điện đốt than để thu hồi tro bay. Đây là một loại puzolan nhân tạo khá tốt, vừa giảm được ô nhiễm môi trường, vừa tạo được puzolan chất lượng cao.
4/ Cỏ vetiver
![]() |
Cỏ vetiver chống sạt lở ở dốc núi |
Cỏ vetiver có khả năng làm sạch môi trường nước và còn có khả năng hút được các kim loại nặng trong bùn thải nguy hại.
Cỏ vetiver rất dễ trồng và nhân giống mạnh, lá và cọng làm đồ thủ công mỹ nghệ. Rễ chưng cất tinh dầu sản xuất mỹ phẩm.
5/ Bảo vệ rừng phòng hộ ven biển
“Trồng và bảo vệ rừng phòng hộ ven biển” để ứng phó với sóng thần. Dọc bờ biển cần phải dành 300 – 1.000m để trồng mắm, đước, bần, sú, vẹt… là những loại cây phát triển nhanh trong môi trường nước mặn, chống gió – bão, sóng thần rất hữu hiệu, giảm đến ¾ thiệt hại mà thế giới đã có kinh nghiệm… Khi đã có rừng phòng hộ thì phải có chính sách khoán sao cho người dân cùng giữ rừng. Nghiêm trị những ai phá rừng.
Phía bên trong rừng phòng hộ từng bước hình thành đê biển, bằng cách dùng “cọc ván bê tông tiền áp dụng sóng” chắn về hai phía, giữa đổ đất, cát… với chiều cao có thể ngăn được nước biển dâng vào cuối thế kỷ này, làm thành đường nhựa hoặc bê tông dọc bờ biển. Tất cả cát nạo vét ở hạ lưu các cửa sông ra biển sử dụng làm đê – đường dọc bờ biển.
“Ván bê tông tiền áp dụng sóng” dùng làm kè để cải tạo, chỉnh trang các sông, rạch của thành phố và còn có thể làm đê ngăn ngập úng thành phố (ngăn từng khu vực).
Thiết bị và công nghệ sản xuất ván bê tông tiền áp dạng sóng không quá phức tạp, thành phố cần đầu tư vào lĩnh vực này để có thể làm kè, làm bờ bao cho 3.000 – 4.000 km sông, rạch bờ biển của thành phố và còn có thể cung cấp cho các tỉnh lân cận.










