“Ứng phó” và “thích nghi” với biển đổi khí hậu toàn cầu
Ngày 16/11/2007 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định “Phê duyệt chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020” đã thể hiện khá toàn diện về tổng quan, được quốc tế khen ngợi. Người viết bài này xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
1. Mực nước biển dâng cao với bờ biển dài 3.260km cùng hệ thống sông ngòi dày đặc có độ rộng - hẹp khác nhau, được phân bổ từ Bắc chí Nam (có 2.360 con sông có chiều dài từ 10km trở lên, 13 hệ thống có diện tích lưu vực từ 3.000km 2trở lên, chín con sông có diện tích lưu vực trên 10.000km 2...). Để đảm bảo an toàn cuộc sống của mọi người dân đang sinh sống nơi bờ biển dài và dày đặc sông ngòi mà phải làm “đê cứng” (bê tông cốt thép dày) vô cùng tốn kém, khả năng tài chính của ta chưa thể đáp ứng và phải mất rất nhiều năm. Khả thi hơn cả trong hàng chục năm sắp đến là làm “đê mềm” bằng cách trồng rừng ngập mặn ở tất cả những nơi có thể trồng được các loại cây: mắm, đước, bần, sú, vẹt… với chiều rộng 300 - 1.000m, phía bên trong là đê, kết hợp với đường giao thông. Hai bên đường có thể trồng các loại tre, cây dầu mè (Jatropha), cỏ Vetiver… là những loại cây, cỏ có tác dụng chống gió, bão, sóng thần, sạt lở… rất tốt. Ở những vùng nước ngọt, phèn… thì trồng tre, bần, dừa nước, gừa, cỏ Vetiver… dọc theo các bờ sông, bờ bao.
Đầu tư cho hệ thống “đê mềm” này không quá tốn kém, có thể huy động được sức dân, cũng như nhiều doanh nghiệp tham gia. Vấn đề là làm sao cho mọi người dân hiểu rõ lợi ích của rừng ngập mặn, có chế độ khoán cho họ quản lý, làm sao cho họ sống được nhờ rừng… và phải xử lý thật nghiêm bất cứ ai vi phạm, như tỉnh Cà Mau xử lý vụ phá rừng ở huyện Đầm Dơi!
2. Tuyển chọn và nhanh chóng nhân giống các loại tre có đường kính lớn, dài (lồ ô Thanh Hóa; tre ở Cao Bằng, Lạng Sơn…) để trồng dọc các bờ sông, bờ đê. Tre là loại cây rất dễ trồng, không kén đất, không tốn nhiều công chăm sóc… có tác dụng chống sạt lở, xói mòn, hạn chế gió, bão…
Nếu được xử lý thì tre còn là nguyên liệu làm hàng trang trí nội thất, hàng thủ công mỹ nghệ. Quan trọng hơn cả là khi tre đã đủ tuổi, qua xử lý dùng làm bè nuôi cá trên sông, bờ biển... kết hợp với làm chỗ ở như nhiều nơi con người vẫn sống nhiều thế hệ trên sông (như ở sông Tiền, sông Hậu, một số sông miền Trung và ngay ở vịnh Hạ Long...). Với những bè lớn có thể kết hợp nuôi thủy sản với các loại thủy cầm (vịt, ngan, ngỗng...) rất kinh tế vì tận dụng hết thức ăn và các chất thải của thủy cầm.
Ở những vùng thường xuyên xảy ra lũ lụt, mỗi nhà dân rất cần một bè tre có mái che (trở thành phao nổi) được neo đậu chắc chắn, làm nơi tạm trú cho con người khi lũ lụt dâng cao. Đầu tư không lớn (vì sẵn có tre nhà) song sẽ rất an toàn, nhất là cho người già và trẻ con.
Ở Bangladesh , người dân đã biết tạo ra “các vườn rau nổi” bằng các bè tre, được lót lớp màng nhựa, đổ đất, phân bón để tạo kế sinh sống ở vùng thường bị lũ lụt.
3. Nhanh chóng phục hồi rừng đầu nguồn bằng các loại cây bản địa cũng như các loài cây mới nhập ngoại, nhất là những loại cây phát triển tốt ở vùng đất khô hạn, nghèo dinh dưỡng… như cây Jatropha (dầu mè), vừa là cây nhanh chóng phủ xanh đất trống, đồi trọc lại là cây cho hạt có dầu để sản xuất diesel sinh học, bã khô dầu làm thức ăn gia súc, cố định CO2 trong không khí, chống cháy rừng bởi thân cây mọng nước… Vấn đề là làm sao chọn được giống cây cho nhiều trái với hàm lượng dầu cao, đó là trách nhiệm của các nhà khoa học.
“Cây xoan chịu hạn” phát triển rất tốt ở một số khu vực miền Trung, nơi mà trước đây gọi là vùng sa mạc hoá, chỉ có nắng và cát… chỉ một số năm sau khi trồng, thảm thực vật phát triển trở lại do tạo được lượng nước ngầm. Lá cây xoan chịu hạn còn là nguyên liệu làm thuốc trừ sâu sinh học, được nước ngoài hết sức quan tâm.
![]() |
| Dừa nước |
4. Cần sớm có kế hoạch xây dựng các “cụm và tuyến dân cư an toàn” kết hợp với ao hồ dự trữ nước ngọt ở những vùng đông dân mà tương lai sẽ bị ngập sâu với cốt nền cao hơn mực nước năm 2100.
Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai của Trung ương cần dành nhiều thời gian và công sức để cùng với các tỉnh, thành… đi sát thực địa để hình thành chương trình này sao cho khoa học và đảm bảo bền vững. Chấp nhận “sống chung với nước dâng cao” con người của cả thế giới sẽ có những giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu song con người cũng sẽ “không thiếu trí tuệ để thích nghi” với mọi biến cố xấu của địa cầu, để mà tồn tại.
5. Thường xuyên nạo vét phần hạ lưu tất cả các con sông đang bị bồi lắng từ Bắc chí Nam (và được tái bồi sau mỗi mùa nước lũ), tạo điều kiện thoát nước nhanh vào mùa mưa lũ, thuận tiện cho giao thông thủy. Đất, cát nạo vét có thể dùng nó để tôn cao nền các “cụm, tuyến dân cư an toàn”, làm đường dọc bờ biển (đê bao) và cũng có thể dùng để lấn biển ở những nơi có điều kiện.
Chúng tôi cho rằng ứng dụng công nghệ “ván bê tông tiền áp dạng sóng” (công nghệ Nhật) để làm kè, đường, cụm - tuyến dân cư hoặc lấn biển là nhanh nhất, dễ thi công, bởi mác bê tông rất cao (>600), nguyên vật liệu để sản xuất: thép, xi măng, đá dăm, cát vàng không thiếu… thiết bị để sản xuất hoàn toàn có thể gia công trong nước, quy trình công nghệ không phức tạp, các cấu kiện này đến lúc không cần có thể nhổ lên đưa đến nơi khác…
6. Với 3.260 Km bờ biển, 2.360 con sông trên cả nước, hàng năm Việt Nam hứng lượng nước ngọt trung bình là 835 tỷ m 3. Trong đó phát sinh trên lãnh thổ là 315 tỷ m 3, chưa tính lượng nước biển dâng cao tràn vào một số vùng lãnh thổ nước ta… Rõ ràng là không thể nào “làm đê bao cả nước”, buộc chúng ta phải làm “đê bao cho từng khu vực” kết hợp với các trạm bơm thoát nước cưỡng bức khi cần thiết. Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai của Trung ương phải tốn nhiều công sức cùng với các địa phương làm quy hoạch đê bao cho các khu vực, từ đó nơi làm trước, nơi làm sau (tuỳ mức độ ngập nước ở các khu vực) sao cho phù hợp với năng lực xây dựng của ta.
7. Khi mực nước dâng cao, đất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp song mặt nước sẽ mở rộng…, làm sao sớm thích nghi, khai thác tiềm năng của mặt nước, của biển mà người xưa có dặn “muốn giàu nuôi cá...”. Hiện nay có biết bao nhiêu loài cá có giá trị kinh tế cao mà các nhà khoa học của ta đã nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo nên phải phát triển mạnh nuôi thủy sản trong đất liền dọc bờ biển và hàng ngàn hải đảo… của Tổ quốc.
Ngày nào đó có “ăn gạo ít đi, nhưng ăn nhiều thủy sản” thì có gì phải băn khoăn! Rồi còn biết bao nhiêu rong, tảo biển đã trở thành nguồn nguyên liệu sinh học cho Trái đất… chưa được quan tâm nuôi, trồng… trên hàng trăm ngàn kilômet vuông dọc bờ biển đất nước. Rong, tảo biển đã trở thành nguồn thực phẩm cho người, gia súc, có loại còn là nguồn dược liệu, là nguồn nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu thay cho dầu mỏ... Vấn đề này cần được nghiên cứu, phải trở thành đề tài cấp Nhà nước, sớm cử người đi học để tiếp thu những thành tựu mới nhất của nhân loại.
8. Nhà nước cần đầu tư thật mạnh vào các lĩnh vực công nghệ sinh học, nhanh chóng tạo ra hàng loạt giống cây, con cả trên cạn lẫn dưới nước, thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu. Phải tạo ra được nhiều loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… thân thiện với môi trường, phải từng bước chuyển đổi từ phương thức canh tác hóa học trở lại phương thức canh tác sinh học.









