Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 31/01/2007 22:10 (GMT+7)

Tương lai của điện hạt nhân

Sự kiện Chernobyl năm 1986 đã có tác động tai hại đối với niềm tin của công chúng vào công nghệ điện hạt nhân. Sau sự kiện này, việc phát triển điện hạt nhân có phần chững lại và một số dự báo bi quan cho rằng điện hạt nhân sẽ giảm sút trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy. Trong những năm gần đây xu hướng hồi phục và đi lên của điện hạt nhân lại bắt đầu thấy rõ: nhiều nước châu Á (Nhật Ban, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ) vẫn tiếp tục phát triển mạnh điện hạt nhân. Ngay cả ở một vài nước Tây Âu trước đây phản đối điện hạt nhân nay lại có xu hướng trở lại với nó, đặc biệt là Phần Lan đã quyết định đặt mua loại lò phản ứng thế hệ thứ III mới được chế tạo bởi Pháp và Đức. Mới đây, đầu năm 2001 chính phủ Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng năng lượng hạt nhân sẽ vẫn là hướng quan trọng trong đường lối năng lượng của Hoa Kỳ. Đầu năm 2000 Hội thảo Liên chính phủ về sự biến đổi khí hậu (IPCC) đã ra một báo cáo đặc biệt dự báo những biến đổi trong cán cân năng lượng trong thế kỷ 21. Báo cáo này phân tích 40 kịch bản phát triển khác nhau về phát triển dân số, xã hội, công nghiệp, phát thải vào môi trường và khoa học kỹ thuật. Nhìn chung hầu hết các kịch bản đều dự báo là điện hạt nhân vẫn có xu thế tăng trong thế kỷ 21. Theo tiến sĩ A. Omoto, giám đốc Phân ban Năng lượng Hạt nhân thuộc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) thì đến 2030 tổng công suất điện hạt nhân trên toàn thế giới có thể đạt tới khoảng 800.000 MWe, gấp hơn hai lần so với hiện nay.

Sở dĩ điện hạt nhân vẫn tiếp tục tăng mạnh và có một tỉ phần ngày càng quan trọng trong cán cân năng lượng toàn cầu là vì điện hạt nhân có những ưu điểm không thể phản bác và vì xu hướng đổi mới công nghệ điện hạt nhân hiện nay. Ta hãy phân tích rõ thêm điều này.

1. Mật độ năng lượng hạt nhân (tức là năng lượng sinh ra do tiêu thụ một đơn vị khối lượng nhiên liệu) lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ dạng năng lượng nào khác. Một nhà máy điện hạt nhân công suất 1000 MWe mỗi năm chỉ sử dụng hết khoảng 20 tấn nhiên liệu urani (U), nếu là nhà máy điện than cùng công suất thì cần đến 2,2 triệu tấn than, còn nếu chạy dầu thì cần đến 1,4 triệu tấn dầu. Điều này khiến cho việc vận chuyển, dự trữ nhiên liệu trong trường hợp nhà máy điện hạt nhân đơn giản hơn nhiều.

2. Điện hạt nhân không phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính, trong khi đó điện than hoặc dầu, khí là nguồn phát thải khổng lồ các khí CO 2, SO 2, NO xgây hiệu ứng nhà kính làm thay đổi khí hậu trái đất (một nhà máy điện than 1000 MW mỗi năm thải 3 tỉ m 3khí CO 2, 9,6 triệu m 3NO 2và 41.000 tấn khí SO 2, 1200 tấn bụi!). Như vậy để giảm thiểu hiệu ứng nhà kính, tránh thảm hoạ môi trường cho nhân loại, không thể không cần đến điện hạt nhân.

3. Không như dầu khí, nhiên liệu hạt nhân ít bị ảnh hưởng của những sự kiện chính trị trên thế giới. Trong giá thành điện năng giá nhiên liệu chỉ chiếm phần rất nhỏ: giả sử giá nhiên liệu U tăng gấp đôi thì giá thành 1 kWh điện hạt nhân chỉ tăng vài % trong khi đó nếu giá dầu tăng gấp đôi thì giá thành 1 kWh sẽ tăng tới khoảng 70%.

4. Việc đổi mới chu trình nhiên liệu sẽ khiến cho hiệu suất sử dụng nhiên liệu cao hơn: 1 kg U nếu được tái chế và sử dụng trong các lò tái sinh nơtron nhanh sẽ cho hơn 7 triệu kWh thay vì chỉ có 400.000 kWh như hiện nay trong các lò nước nhẹ thông thường. Triển vọng sử dụng các hạt nhân phân hạch mới (Th 232, chu trình Th 232-U 233) sẽ khiến cho dự trữ nhiên liệu hạt nhân trên trái đất tới hàng nghìn năm, hơn rất nhiều lần nhiên liệu hoá thạch.

5. Sau sự kiện Chernobyl vấn đề nâng cao an toàn cho nhà máy điện hạt nhân đã được quan tâm hàng đầu. Hiện nay đã ra đời các lò phản ứng thế hệ thứ III với những cải tiến mới, rất quan trọng về đảm bảo an toàn: với thiết kết tiên tiến và an toàn thụ động tính an toàn của lò phản ứng ít phụ thuộc vào những yếu tố chủ động như con người, hệ thống bơm, van cung cấp nước làm nguội. Chính những yếu tố này là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra sự cố Chernobyl . Những thiết kế an toàn mới cũng nhằm loại bỏ khả năng phát tán phóng xạ ra ngoài trong trường hợp rủi ro có sự cố.

6. Nhiều vấn đề đổi mới trong công nghệ điện hạt nhân đang được nghiên cứu và có nhiều triển vọng. Tháng 1 năm 2000, theo sáng kiến của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ 10 nước trong “Diễn đàn Quốc tế thế hệ IV” (GIF, Generation IV International Forum) đã hợp tác để cùng nhau lựa chọn một vài mô hình hệ hạt nhân tương lai và tiến hành những nghiên cứu và triển khai cần thiết để có thể đưa vào thương mại hoá các hệ thống đó sau năm 2030. Các lò phản ứng thế hệ thứ IV ngoài tính an toàn và khả năng cạnh tranh về kinh tế cao còn được nghiên cứu thoả mãn những yêu cầu đặc biệt về tính phát triển năng lượng bền vững (có nghĩa là sử dụng tối ưu nguồn nhiên liệu, tạo ra ít chất thải nhất) và khả năng đa mục tiêu (có nghĩa là không chỉ sản xuất điện năng mà còn có thể phục vụ các mục tiêu quan trọng khác, như sản xuất hyđrô, khử mặn). Trong số 20 đề án đưa ra đáng chú ý nhất là đề án lò phản ứng khí nhiệt độ cao nhằm không những sản xuất điện năng mà còn sản xuất hyđrô và đề án lò nơtron nhanh với hệ tái sinh toàn bộ phục vụ yêu cầu phát triển năng lượng bền vững.

Sau đây xin nói rõ thêm về hai hệ thống trên. Như ta đã biết hyđrô có thể sẽ đóng một vai trò quan trọng trong thế kỷ 21, đặc biệt nó sẽ là nhiên liệu chủ yếu trong lĩnh vực giao thông vận tải, thay thế cho dầu khí vừa gây ô nhiễm môi trường vừa có trữ lượng rất hạn chế. Việc sử dụng nhiên liệu hyđrô có nhiều thuận lợi vì tránh được ô nhiễm môi trường: sản phẩm đốt của H chỉ là nước (H 2O) mà không tạo ra một loại khí nhà kính nào khác. Hiện nay hyđrô được sản xuất thương mại chủ yếu từ khí thiên nhiên. Quá trình sản xuất này tạo ra khí nhà kính. Các lò phản ứng khí nhiệt độ cao có thể tạo ra hyđrô với khối lượng lớn bằng phương pháp phân ly nước ở nhiệt độ 850 độ C và không gây hiệu ứng nhà kính.

Hệ thống thứ hai liên quan đến tối ưu hoá chu trình nhiên liệu và giảm thiểu bã thải. Trên thế giới hiện nay, để sản xuất điện năng mới chỉ dùng lò phản ứng nơtron nhiệt với nhiên liệu U-235. Các lò phản ứng tái sinh nơtron nhanh sử dụng nhiên liệu plutôni-239. Pu-239 có được bằng cách tái chế nhiên liệu urani đã sử dụng từ lò nơtron nhiệt. Trong tâm lò nơtron nhanh cũng có đặt U-238, hạt nhân này sẽ biến đổi thành Pu-239 khi chiếm nơtron. Như vậy loại lò này có thể tạo ra nhiều Pu hơn số lượng Pu mà nó tiêu thụ, điều đó có nghĩa là ta có thể thu được nhiều năng lượng hơn từ nguồn nhiên liệu U. Ngoài ra vấn đề bã thải phóng xạ cũng được giải quyết tốt hơn không những do tách Pu và U ra khỏi nhiên liệu đã qua sử dụng để tái chế mà còn do khả năng “đốt” bã thải bằng cách dùng phương pháp phá vỡ hạt nhân để biến các sản phẩm phóng xạ dài ngày thành các chất phóng xạ ngắn ngày, do đó hoạt độ của bã thải sẽ giảm nhanh hơn nhiều (chỉ sau vài trăm năm hoạt độ sẽ giảm đến mức hoạt độ của quặng urani so với vài nghìn năm nếu chưa “đốt”). Các lò nơtron nhanh trong tương lai sẽ có các cơ cấu đặc biệt cho phép thực hiện điều này. Như vậy các lò nơtron nhanh sẽ là một hệ thống bao gồm các ưu điểm sử dụng tối ưu urani với hiệu suất cao và tạo ra bã thải ít nhất. Nếu chỉ sử dụng urani không tái sinh thì trữ lượng urani trên thế giới hiện nay sẽ chỉ còn đủ dùng cho khoảng 70 năm nữa. Nếu sử dụng lò tái sinh nơtron nhanh thì còn có thể đáp ứng nhu cầu năng lượng của nhân loại vài nghìn năm nữa.

Theo dự báo, đến năm 2050 dân số thế giới sẽ lên tới 9 tỉ và nhu cầu năng lượng sẽ tăng gấp đôi hiện nay. Như vậy vấn đề cạn kiệt nguồn nhiên liệu hoá thạch và vấn đề hiệu ứng khí nhà kính sẽ cực kỳ gay cấn. Với các hệ thống đổi mới có thể sử dụng toàn bộ urani và “đốt” luôn cả một phần bã thải năng lượng hạt nhân sẽ thực sự trở thành nguồn năng lượng đảm bảo phát triển bền vững.

Nguồn: Vật lý ngày nay, số 6, 12/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.