Từ hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đến trường Đông Kinh Nghĩa Thục
Trường Đông Kinh Nghĩa Thục của các trí thức Nho học duy tân chỉ hoạt động chính thức được chưa đầy 8 tháng, nhưng phong trào mà nhà trường khởi động đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp vì thực ra cơ sở văn hoá - xã hội của nó đã được hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn chuẩn bị từ hơn nửa thế kỷ trước đó.
Mối liên hệ về nhân sự và tư tưởng của phong trào văn thân yêu nước và duy tân nói chung, của trường Đông Kinh Nghĩa Thục nói riêng với hội Hướng Thiện của sĩ phu Hà thành được minh chứng bởi những sự thực sau đâu:
- Cuộc diễn thuyết đầu tiên đả phá lỗi học khoa cử đã lỗi thời, cổ động noi theo gương duy tân của Nhật Bản đã diễn ra ngày Rằm tháng Giêng năm 1907 ở trong đền Ngọc Sơn cuộc diễn thuyết càng có sức thuyết phục lớn bởi vì diễn giả là 2 thanh niên sớm thành đạt lại chính trong lối học cử nghiệp là cử nhân Dương Bá Trạc và cử nhân Lương Trúc Đàm, con trai của cụ Cử Lương Văn Can.
- Từ trước đó 3 năm rưỡi, tháng 6 (âm lịch) năm 1903, danh tính cử nhân Lương Văn Can và hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền - 2 yếu nhân sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục sau này - và nhiều nhân vật khác liên quan đến Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào duy tân, đã được khắc trên tấm bia hiện vẫn gắn trên tường trong đền Ngọc Sơn vì họ đã cùng phả thiện An Lạc (một trong 3 phả thiện tách ra từ hội Hướng Thiện sau 1872/ 1873) xây dựng “Hoằng thiện kinh đàn” ở ngay bên trái chính điện (nay bị biến thành gian hàng bán đồ lưu niệm) để giảng bài “ Chính kinh”của Đức Thánh Trần (quê hương ở An Lac) và các bài kinh giảng bút khác của chư vị thánh thần dân tộc răn dạy giữ lòng trung hiếu và tuân thủ thuần phong mỹ tục cổ truyền.
- Văn bia của cả 3 phả Tập Thiện, Lạc Thiện và An Lạc trong đền Ngọc Sơn, cũng như văn bia và gia phả tại một số địa phương cho thấy nhiều hậu duệ và môn sinh của các nhà Nho sáng lập hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đã tham gia tích cực vào phong trào văn thân yêu nước liên tục từ 1873 đến Đông Kinh Nghĩa Thục và cả sau khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị đàn áp.
Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn là một số tư tưởng tiến bộ (trên câu đối trong đền Ngọc Sơn gọi là “ chủ trương” và phương thức hoạt động cùng cơ sở văn hoá - xã hội của nhóm sĩ phu Hà thanh nửa sau thế kỷ XIX đã được thế hệ nhà Nho duy tân ở đầu thế kỷ XX kế thừa và phát huy rất hiệu quả.
- Trước hết, đó là chủ trương “ trung với dân” và “ lo cho dân” (tiến sĩ Vũ Tông Phan: “Trùng tu Hoả thần miếu bi ký, 1841) và để thực hiện điều đó, họ đã động viên các trí thức Nho học về “ làm người quân tử trong làng, làm thầy đồ trong xã” (Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý: “Thọ Xương tiên hiền từ vũ bi ký”, 1838). Từ đó, việc đem ánh sáng văn hoá về làng quê - đất căn bản của nền văn hoá Việt - trở thành một lẽ sống đích thực của kẻ sĩ, chẳng những được các Nho sĩ duy tân trong Đông Kinh Nghĩa Thục hưởng ứng, mà sau đó cả các trí thức “Tây học” nhưng không vong bản trong nhóm “Thanh Nghị” còn biến thành lời kêu goi: “Anh em thanh niên! Đã đến lúc chúng ta về làm việc làng!” năm 1969 Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, tiến sĩ “Tây học” nhưng uyên bác về văn hoá phương Đông, mẹ đẻ lại đã tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục, từng nêu nhiệm vụ cần nghiên cứu về vai trò của các ông đồ (cả bà đồ nữa) ở các ngôi trường làng trong cách mạng Việt Nam. Nhưng phải chăng vì trên tài liệu ghi phát kiến lớn đó có cộp dấu “Mật”, nên ngành giáo dục im lặng về vấn đề đó suốt thời gian qua, và đến nay vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ! Vậy mà hàng ngàn ngôi trường làng cùng hàng ngàn ông đồ quân tử ấy từng là cơ sở và lực lượng dự bị có sẵn, tại khắp các địa phương đã giúp cho Đông Kinh Nghĩa Thục triển khai công cuộc vận động canh tân của mình một cách nhanh chóng và rộng rãi kể cả sau khi ngôi trường “trung ương” ở số 10 Hàng Đào - Hà Nội bị chính quyền thực dân Pháp đóng cửa. Thục trướng Lương Văn Can cùng cả loạt giáo viên bị bắt bớ, tù đày, thì tại các làng quê những ông đồ ấy, tại những ngôi tư thục tồn tại có khi hơn nửa thế kỷ rồi, vẫn mở lớp dạy “rập khuôn trường Đông Kinh Nghĩa Thục” (Thọ Xương Đông Tác Nguyễn tộc tông thế hệ sự tích tục biên, Di Trạch đường hậu phả…). Cũng không ít những ông đồ ấy về sau trở thành Chánh/ Phó chủ tịch. Uỷ viên thư ký của các Uỷ ban Nhân dân lâm thời trong Cách mạng tháng Tám 1945.
- Các nhà Nho sáng lập hội Hướng Thiện chủ trương tập họp Nho sĩ và thương nhân trong một tổ chức cùng hoạt động văn hoá - xã hội: trên các bia trong đền Ngọc Sơn, từ bia đầu tiên năm 1843 đến bia cuối cùng năm 1916, đứng chung tên với kẻ sĩ còn có các cá nhân thương gia hoặc các hiệu Nguyên Xương, Hưng Ký, Dụ Hưng, Đồng Lợi… Khỏi phải nói rằng ở đầu thế kỷ XIX, khi Nho giáo chính thống của triều Nguyễn vẫn “trọng nông, khinh thương”, thì đây là một tư tưởng đổi mới thực sự. Vị tiến sĩ Nho học Hội trưởng Hướng Thiện đầu tiên còn cho trưởng nam của mình là Tú kép Nho học Vũ Như Trâm kết hôn với thục nữ Bùi Thị Dĩnh, cháu họ của thương giaBùi Huy Tùng. Chúng tôi nhấn mạnh không ngẫu nhiên: phả chữ Hán của họ Bùi ngõ Phất Lộc (Bùi thị gia phả ký), soạn năm 1866 đời vua Tự Đức, ghi rõ vị tiên tổ Bùi Văn Mạo từ làng Phất Lộc huyện Đông Quan phủ Thái Bình lên Thăng Long năm 1717 để “ mưu doanh sản nghiệp”. Do tư tưởng “trọng nông, khinh thương” cố hữu chăng mà người đời nay đã biến ông thành “giám sinh Quốc Tử Giám” Trong khi đó thành công của ông tổ họ Bùi chính là ở lĩnh vực “mưu danh”, nên ông mới để lại cho con cháu một “sản nghiệp” lớn để rồi hậu duệ của ông là Bùi Huy Tùng, đã hằng sản lại hằng tâm, nên đóng góp tới hơn 10 mẫu ruộng cho Văn hội Thọ Xương - nòng cốt của hội Hướng Thiện, xây dựng và duy trì hoạt động của Văn chỉ Thọ Xương. Chủ trương liên kết mật thiết trí tuệ của kẻ sĩ và tài lực của doanh nhân trong công cuộc chấn hưng văn hoá Thăng Long ở nửa đầu thế kỷ XIX đã được các nhà Nho trong phong trào Duy tân và Đông Kinh Nghĩa Thục tiếp tục phát huy. Thậm chí, một số nhà Nho còn “xắn tay áo lên” trực tiếp mở hiệu kinh doanh, tuy nhiên, theo Nguyễn Hiếu Lê, thua lỗ không ít, vì kinh doanh đâu phải là chỗ mạnh của kẻ sĩ!
- Chính sự liên kết trí tuệ và tài sản đã giúp cho hội Hướng Thiện “làm những việc có ích cho người” (bia “Ngọc Sơn Đế quân từ ký”) như phục dựng hàng loạt di tích lịch sử - văn hoá đã trở nên hoang tàn sau ba chục năm chiến tranh liên miên (1771 - 1802), biến đền Ngọc Sơn thành một cơ sở khắc in sách lớn nhất Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIX (đây là một công việc xưa kia vô cùng tốn kém) cho đến năm 1966, theo báo cáo kiểm kê của nhà Hán Nôm học lão thành Vũ Tuấn Sán, sau bao biến thiên Hà Nội, trong khi đền Ngọc Sơn vẫn lưu trữ 1156 tấm ván khắc. Rất đáng chú ý là hội Hướng Thiện đã tổ chức khắc in các sách tiểu học để phổ cập chữ hán, sách truyện danh nhân đất Việt như Chu Văn An, Trần Hưng Đạo… sách phổ biến kiến thức thông thường như vệ sinh thai nghén, sinh đẻ và nuôi con. Phương châm làm sách này cũng được Đông Kinh Nghĩa Thục phát huy, và sau Đông Kinh Nghĩa Thục còn được một số người tâm huyết với văn hoá dân tộc và sự học của tầng lớp bình dân như cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, con trai thứ của sáng lập viên ĐKNT cử nhân Nguyễn Hữu Cầu, tiếp tục.
- Từ Hội Hướng Thiện Đền Ngọc Sơn đã bắt đầu hình thành hình thức thuyết giảng không phải thuần tuý tôn giáo như xưa, mà đã là thuyết giảng công khai, mang tính tuyên truyền xã hội, dẫu mới chỉ là những buổi tụng giảng kinh đạo lý cổ truyền, đã được diễn Nôm để quảng đạo người nghe hiểu ngay. Đông Kinh Nghĩa Thục đã phát huy vô cùng hiệu quả hình thức hoạt động này.
Một điều nữa cũng nói lên mối liên quan tư tưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục với hội Hướng Thiện, đó là: bắt đầu từ đền Ngọc Sơn, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục triển khai mạnh mẽ với đền Ngọc Sơn là một trong những diễn đàn chính, thì sau khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị cấm, các tư tưởng và hình thức tuyên truyền thông qua diễn thuyết lại trở về đền Ngọc Sơn - đương nhiên, do tình thế mới, trở về dưới vỏ bọc khác là tụng giảng tại “Hoằng thiện kinh đàn” các bài kinh “giáng bút” của chư vị thần thánh đất Việt, trong đó có “ Đạo Nam kinh” với những đề bài và nội dung không mấy khác các bài giảng ở Trường Đông Kinh Nghĩa Thục trước đây, như “Hợp đoàn thể”, “Khuyến công”, “Khuyến thương”, “Khuyến nữ học”… kể cả “Ái quốc ca”. Vì thế nên đền Ngọc Sơn mới bị quan lớn Thống sứ thực dân lưu ý vào sổ, và kinh “ Đạo Nam ” mới bị cấm. Thì lại đến lượt kinh tam giáo “ Tâm pháp” được Vân Hương thánh mẫu “giáng” và đưa ra rao giảng, dẫu kín đáo hơn, “tôn giáo” hơn, nhưng đây đó vẫn ẩn hiện cái hồn của Đông Kinh Nghĩa Thục:
Cùng non nước, cùng hình dáng ấy,
Cùng giống nòi tự bấy nhiêu lâu,
Cùng chung khí huyết một bầu:
Tiên – Long ta vẫn trước sau ghi truyền.
Tình nghĩa lúc sinh tiền khôn xiết,
Cùng màu da, xác thịt trước sau,
Kể chi già, trẻ, nghèo, giầu,
Vốn là cùng giống với nhau một loài!








