Từ du lịch sinh thái văn hoá lịch sử đến du lịch cộng đồng.
Có nhiều cách hiểu du lịch sinh thái rất khác nhau. Thường du lịch sinh thái được hiểu như một biện pháp kinh doanh để tăng doanh thu. Khách du lịch đi thăm các khu thiên nhiên, bị vẻ đẹp và sự quý hiếm thu hút, mà không biết đến tính sinh thái, văn hoá, lịch sử của các điểm du lịch. Kết quả của việc phát triển hình thức du lịch này không mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và không mang tính bền vững. Nhiều khu du lịch sinh thái không có gì là sinh thái cả.
Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đề ra các đặc điểm sau đây của Du lịch sinh thái:
1. Tất cả các hình thức du lịch dựa vào tự nhiên trong đó động cơ chủ yếu của khách du lịch là quan sát và đánh giá tự nhiên cũng như các truyền thống văn hoá từ các khu vực tự nhiên ấy.
2. Nó chứa đựng tính chất giáo dục và giải thích.
3. Thường tổ chức thành các nhóm nhỏ có cùng chuyên môn hay ở cùng một nơi.
4. Hạn chế ít nhất tác dụng tiêu cực đối với môi trường tự nhiên hay kinh tế - văn hoá.
5. Hỗ trợ việc bảo vệ môi trường tự nhiên bằng cách:
Tạo lãi kinh tế cho các cộng đồng, tổ chức và chính quyền quản lý khu vực tự nhiên với mục đích bảo vệ. Tạo việc làm và thu nhập thêm cho cộng đồng địa phương. Tăng sự quan tâm đối với việc bảo vệ các di sản tự nhiên và văn hoá cho dân địa phương và khách du lịch.
Như vậy trong nội dung du lịch sinh thái có các di sản văn hoá mà thực chất là sự tham gia của con người vào các hệ thống sinh thái.
Theo chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) thì du lịch sinh thái bao gồm: du lịch nông thôn, du lịch tự nhiên và du lịch văn hoá.
Du lịch văn hoá/di sản
Là một hình thức du lịch mà mục tiêu là khám phá các kiến trúc, di tích, góp phần vào sự duy trì và bảo vệ chúng. Việc duy trì và bảo vệ này là nhu cầu của một cộng đồng địa phương.
Du lịch văn hoá/di sản phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Cân đối giữa duy trì, bảo vệ với kinh doanh. Quản lý sự tăng trưởng và nâng cao khả năng nguồn lợi lịch sử, tự nhiên và văn hoá. Bảo đảm tính xác thực, hơn là thoả hiệp với các kiến trúc không thích hợp. Thông báo các điểm nhạy cảm về văn hoá mà không khai thác chúng. Hiểu được cái gì mà dân chúng muốn chia sẻ với cộng đồng hay các chỗ thiêng liêng cần giữ kín.
Bảo vệ di sản văn hoá có mục đích là bảo vệ bản sắc dân tộc. Trước hết cần xác định những gì cần bảo vệ: các di sản vật thể không di chuyển được và di chuyển được, ẩm thực, trang phục, các di sản văn hoá phi vật thể như âm nhạc, văn hoá dân gian..
Khó nhất là làm thế nào bảo vệ được các quần thể kiến trúc, nhất là các nhà cổ mang tính truyền thống mà không mâu thuẫn với việc cải thiện tiện nghi sinh hoạt. Việc bảo vệ các di sản phi vật thể hỏi phải sưu tập lại các phong tục, quan hệ xã hội đang bị biến mất trong sự tiến hoá.
Du lịch nông thôn
Là một kiểu du lịch nằm trong kinh tế nông thôn, nhằm góp thêm vào việc phát triển nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân, tham gia vào việc đa dạng hoá du lịch. Nhưng các hoạt động đón tiếp đòi hỏi một mức chuyên nghiệp cao.
Tính đa chức năng của nông nghiệp ngày nay được công nhận rộng rãi như vậy có nghĩa là ngoài việc sản xuất nông nghiệp còn có các nhiệm vụ khác: lãnh thổ, môi trường, xã hội… Việc đón tiếp ở nông trại dưới mọi hình thức là mở cửa nông nghiệp cho các thành phần xã hội khác thường khao khát không gian và phát minh, đồng thời hoạt động bảo tồn di sản và tham gia vào sinh hoạt kinh tế xã hội của nông thôn.
Thông qua hoạt động sản xuất, nông dân đóng góp vào tính thu hút của môi trường nông thôn: cảnh quan được gìn giữ. Đối với những người hoạt động đón tiếp ở nông trại, họ đã tham gia vào sự đa dạng hoá cung cấp du lịch. Những địa phương có tham vọng phát triển du lịch phải cung cấp được nhiều kiểu ăn ở và hoạt động đa dạng có thể thu hút các kiểu khách hàng khác nhau: việc “độc canh” du lịch không thể là giải pháp cho các địa phương. Phải có các làng - nghỉ ngơi, các nhà ở nông thôn, các hiệu ăn, các nông trại - quán ăn, các khác sạn, các nơi cắm trại…Nhiều khung cảnh khác nhau của các địa phương tăng thêm tính đa dạng cho du lịch nông thôn.
Du lịch bền vững
Năm 1988 Tổ chức Du lịch thế giới đề ra khái niệm du lịch bền vững nhằm mục đích quản lý tất cả các nguồn lợi, làm thế nào để các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ thoả mãn các yêu cầu văn hoá trong các quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và các hệ thống hỗ trợ sự sống.
Tổ chức Du lịch thế giới định nghĩa: “Du lịch bền vững dẫn đến sự quản lý của tất cả các nguồn lợi như thế nào để phù hợp với nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, giữ vững sự nhất thể về văn hoá, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và hệ thống nâng đỡ sự sống”.
Nguyên tắc của du lịch bền vững dựa trên 4 cột trụ kinh tế, sinh thái, văn hoá và cộng đồng.
1. Bền vững về kinh tế- có lợi trước mắt và lâu dài:
Tạo ra sự hợp tác của toàn bộ dây chuyền sản xuất từ các xí nghiệp nhỏ địa phương đến các tổ chức đa quốc gia. Dùng các hướng dẫn viên để huấn luyện và chứng nhận. Thúc đẩy cách ứng xử đạo đức và quan tâm môi trường. Đa dạng hoá sản phẩm bằng cách phát triển một loạt các hoạt động du lịch. Đóng góp vào thu nhập để hỗ trợ huấn luyện, tiếp thị sản phẩm một cách có đạo đức. Thúc đẩy các doanh nghiệp chấp nhận các nguyên tắc bền vững.
2. Bền vững về sinh thái- phù hợp với việc giữ vững các quá trình sinh thái chủ yếu, đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh học.
Xây dựng các quy định hoạt động cho du lịch các cấp. Hướng dẫn hoạt động du lịch, đánh giá tác dụng và điều khiển các tác dụng tích luỹ. Xác định các chính sách và chiến lược phát triển phù hợp với các mục tiêu của phát triển bền vững. Xây dựng cơ sở của các nghiên cứu đánh giá tác dụng. Bảo đảm thiết kế, quy hoạch, phát triển và hoạt động có các nguyên tắc bền vững. Bảo đảm du lịch các khu bảo tồn, như vườn quốc gia, được đưa vào các kế hoạch quản lý tốt. Tiến hành các nghiên cứu về tác dụng của du lịch. Xác định cách ứng xử chấp nhận được của khách du lịch. Tuyên truyền cách ứng xử có trách nhiệm của khách du lịch.
3 . Bền vững về văn hoá- tăng sự tôn trọng cách sống phù hợp với văn hoá và giá trị ảnh hưởng và củng cố bản sắc của cộng đồng:
Du lịch phải tổ chức với sự tham gia rộng rãi của cộng đồng. Xây dựng chương trình giáo dục và huấn luyện để cải tiến và quản lý di sản và nguồn lợi tự nhiên. Bảo vệ đa dạng văn hoá. Tôn trọng đất đai và quyền sở hữu truyền thống của nhân dân. Bảo đảm sự bảo vệ thiên nhiên, văn hoá địa phương và bản địa, đặc biệt kiến thức truyền thống. Làm việc với các già làng để đảm bảo văn hoá bản địa và cộng đồng được mô tả cẩn thận và tôn trọng. Củng cố, nuôi dưỡng khuyến khích cộng đồng bảo vệ và sử dụng các kỹ năng truyền thống. Giáo dục khách du lịch và nhân viên du lịch về cách ứng xử mong muốn và chấp nhận được.
4. Bền vững địa phương- có lợi cho cộng đồng địa phương, tạo ra và giữ lại thu nhập trong cộng đồng:
Cộng đồng phải kiểm soát sự phát triển du lịch. Du lịch phải cung cấp việc làm có chất lượng cho người trong cộng đồng. Khuyến khích doanh nghiệp làm giảm các tác hại đến cộng đồng địa phương và đóng góp tích cực cho họ. Bảo đảm sự phân phối công bằng lợi nhuận trong các ngành hàng. Cung cấp khuyến khích lợi ích cho các doanh nghiệp địa phương để họ tham gia vào du lịch. Cải tiến khả năng nguồn lợi con người.
Du lịch bền vững gộp tất cả các loại hình du lịch khác nhau: sinh thái, văn hoá/di sản và nông thôn để đa dạng hoá hoạt động kinh tế.
Du lịch bền vững có các tác dụng sau:
1. Đa dạng hoá kinh tế.
2. Phân chia thu nhập công bằng hơn.
3. Bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái bền vững.
4. Thúc đẩy sự tham gia và hỗ trợ việc bảo vệ văn hoá.
5. Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và sự phát triển bền vững.
Muốn xây dựng du lịch bền vững phải có sự tham gia của các thành phần sau:
Chính quyền trung ương: xây dựng các chương trình du lịch và điều phối công việc. Cộng đồng dân cư, bao gồm cả chính quyền địa phương: thực hiện chương trình du lịch. Khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ du lịch. Các tổ chức nghiên cứu và quản lý việc bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và địa phương. Khách du lịch và các công ty du lịch.
Tất cả các hoạt động này phải gộpchung trong một khái niệm xã hội gọi là du lịch cộng đồng.







