Từ bài văn sách - hiểu cách an dân
Càng lớn, cậu bé càng thông minh, học giỏi, đỗ đầu hai kỳ thi Hương và thi Hội. Năm Đinh mùi (1871) tròn 36 tuổi, Nguyễn Khuyến lại đỗ đầu khoa thi Đình vào cuối đời vua Tự Đức, khi chính sự rối ren: Pháp đã chiếm gọn Nam Kỳ, giặc dã nổi lên với khẩu hiệu “giết hết quan lại tham ô”!
Khoa thi Đình năm ấy, vua Tự Đức đặt đề thi, đại ý: “Trẫm đọc Luận ngữ, thầy Tử Cống hỏi về chính sự, Khổng Tử đáp:
“Đủ lương thực, đủ binh bị, dân tin theo vậy!”, trẫm nghĩ công việc hiện nay không gì quan trọng hơn điều đó, mà muốn thực hiện được, thì sự lựa chọn người tốt là rất quan trọng... trẫm thường ngày đêm suy nghĩ, mà chưa đạt được mong ước. Các người xuất thân kỷ sỹ, có sở học kinh bang tế thế, những việc thiết thực như vậy, từ cổ chí kim, nghĩ thế nào, phải làm gì, để có trung liệt, hãy tâu, hãy viết, trẫm đang chờ nghe”.
Đúng như Tự Đức nhận xét, trong số kẻ sỹ vô kinh thi tài có Nguyễn Khuyến tỏ rõ một nhà “kinh bang tế thế” uyên thâm, ngày ngày mục kích cảnh chính sự rối ren, quan tham ô lại diễn ra khắp nơi, Nguyễn Khuyến nhân cơ hội này đã viết bài văn sách, ít thể hiện văn chương nhưng tràn đầy nhiệt huyết, đề xuất kế sách an dân, kỳ vọng giúp nước phò vua cải thiện chính sự, nhằm thoát cơn hiểm nghèo đến từ một nước đế quốc phương Tây. Bài văn sách độc nhất vô nhị đương thời tâu trình cặn kẽ sự việc, nguyên do và biện pháp khắc phục:
- Chốn đồng quê, nhan nhản con em chơi bời lêu lổng; nơi tổng xã, cường hào sâu mọt thi nhau đục khoét, trọc phú mặc sức cho vay nặng lãi, lái buôn nắm giữ giá cả. Đó là nguyên do của sự thiếu vốn.
Trên thì bộ, viện, tư, các (cơ quan triều nội) dưới thì tỉnh, phủ, huyện, châu làm ngơ, dung túng để số thuế lạm tham vào túi bọn nhân viên ô nhũng, hỏi sao tránh khỏi quỹ công hao tán?
Đã nhiều phen triều đình sức chỉ gộp người lại, hoặc bớt người đi (giảm nhẹ biên chế) nhưng bọn quan trường thì “lạm ngạch”, còn hào dịch lại quen thói nài xin, rút cục việc ấy nửa chừng bỏ dở... Công việc nào có bao nhiêu, suốt ngày họ chỉ chăm chút bốn chữ “vinh thân phì gia”.
Thần xin bệ hạ: từ nay những tệ tục xa xỉ, con em lười biếng, cường hào bóc lột, nhất nhất phải cấm, phải trừ mà cấm triệt để. Còn các nha môn, trên kinh dưới tỉnh, phủ, huyện, châu, tùy nơi việc nhiều việc ít, phải giảm bớt người thừa để nhẹ gánh cho dân, nhất quyết phải làm đến chốn đến nơi.
Trong văn sách của mình, Nguyễn Khuyến còn đề cập chuyện tham nhũng trong quân sỹ triều đình. Nhà cửa vật dụng của viện Quản suất đều do anh lính làm ra (?); vòi xin than củi dầu đèn không mức độ. Tuyển người đăng lính lại bày kế cho họ trốn để ban ơn và lấy của đút. Lính hết hạn không cho giải ngũ, tìm cách giữ lại để đòi lễ vật. Lính đến phiên trực sai có thể dùng tiền thế người. Tới kỳ tập luyện, lính thuê tiền người học thay), ngày thường, tinh thần lính rã rời, ý chí sa sút, khi lâm trận, lấy đâu ra dũng khí? Cảnh “thầy cai hô tiến, thầy quyền giật lùi” tất xảy ra, giặc Pha Lăng chỉ mong có thế (!), thật hiểm nguy.
Nguyễn Khuyến kết luận chí lý: “Xe không tiến chẳng qua do ngựa không chịu kéo, chính sự chẳng nên, vì người không chịu làm”. Ông đặt câu hỏi: “Phải chăng thiên hạ hết nhân tài?” hẳn là không phải.
Ông nêu giải pháp: Đường vào cửa quan có nhiều lối. Muốn ngăn chặn bọn xấu, bọn bất tài dùng tiền để mua quan bán tước, không thể không dựa vào tài đức (người đủ cả đức lẫn tài). Cho nên: Ai mà thứ bậc chưa đến, dù liêm chính đến mấy, cũng phải tra cứu thêm. Việc thăng bổ cũng phức tạp: người thì chạy chọt ở cửa quan trên, người mãn hạn phải chuyển đổi v.v... lúc ấy chẳng ai còn lòng dạ nghĩ đến việc an dân, phò vua trị quốc bình thiên hạ nữa. Lòng riêng sai lạc, thì công vụ bê trễ ngay!
Tác giả văn sách là Nguyễn Khuyến được sử sách lưu danh là “Tam Nguyên Yên Đổ”. Dân đồng hương thân mật gọi ông là Hoàng Và. Ông đã được triều đình bổ dụng Đốc học rồi Bố chánh. Khi Pháp xâm lăng, ông làm Tổng đốc ba tỉnh Sơn - Hưng - Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang). Năm 1884, nước ta bị Pháp chiếm đóng, ông cáo quan về quê làng Và, làm thơ làm câu đối, vui thú điền viên, ông đã để lại cho hậu thế tấm gương sáng về sự thanh liêm cương trực, mẫn tiệp của một nho sĩ trung thần và những áng văn chương chan chứa tình yêu nước, yêu dân.
Tự Đức khen văn hay, chấm đỗ Thủ khoa, nhưng chẳng cho làm theo! 12 năm sau vua băng hà cũng là thời điểm nước ta bị Tây chiếm đóng. Đúng như Nguyễn Khuyến đã viết trong văn sách: “Xe không tiến chẳng qua do ngựa không kéo, chính sự chẳng nên do người không chịu làm!”
Nguồn: hoidantochoc.org.vn (28/12/06)








