Truyện Trạng cười người Việt
Theo tiêu chí đặc trưng thể loại, đến nay, một số nhà nghiên cứu đã căn cứ vào một số đặc điểm như: truyện phải gắn với một nhân vật cụ thể; truyện có sử dụng phương thức phóng đại làm yếu tố tạo ra tiếng cười cho tác phẩm; bao giờ cũng sử dụng biện pháp tạo ra tình huống có vấn đề để khẳng định tính cách nhân vật… để xếp truyện trạng vào loại truyện cười dài (truyện cười kết chuỗi) bên cạnh loại truyện cười không kết chuỗi (truyện cười đơn lẻ).
So với các thể loại văn học dân gian khác như ca dao, truyện cổ tích, thì việc sưu tầm và nghiên cứu về truyện trạng diễn ra muộn hơn. Văn bản ghi lại truyện trạng sớm nhất hiện biết là bản in của Liễu văn đường tàng bản bằng chữ Nôm, ký hiệu AB 405 năm Quý Hợi và bản Nôm năm ất Sửu lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm chưa rõ được in vào cuối thế kỷ XIX hay những năm đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, văn bản ghi lại truyện trạng bằng chữ quốc ngữ lại được xác định rõ ràng bằng cuốn Chuyện khôi hài (năm 1882) và Chuyện đời xưa nhón lấy những truyện hay và có ích (bản in lần thứ 4, năm 1888) của tác giả Trương Vĩnh Ký. Trước năm 1954, việc sưu tầm và giới thiệu truyện trạng chủ yếu gồm những hệ thống truyện trạng quen thuộc như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ba Giai Tú Xuất, Ông Ó.
Sau năm 1954 cho đến nay, những truyện trạng được giới thiệu phong phú hơn về nội dung và mở rộng hơn về hệ thống các trạng. Truyện trạng cười người Việt ngày càng hình thành rõ nét một đặc trưng thể loại và hiện nay, đã sưu tầm, sưu tập được hệ thống truyện trạng cười người Việt bao gồm 18 trạng từ Bắc vào Nam như sau: Truyện Trạng Lợn, truyện Trạng Quỳnh, truyện Thượng Nành, truyện Ba Giai Tú Xuất, truyện Quản Bạt, truyện Xiển Bột, truyện Mân Nhụy, truyện trạng Bờ Ao, truyện Cố Duồn, truyện Phủ Tuấn, truyện Nguyễn Kinh, truyện Ông Tuyn, truyện Thủ Thiệm, truyện Bợm Bảy, truyện Bộ Ninh, truyện Ông Me, truyện Ông Ó, truyện Ba Phi.
Trạng cười người Việt được giới thiệu khá đầy đủ từ khi sinh thành, lớn lên, thi thố tài năng và kết thúc cuộc đời. Tuy nhiên, tuỳ từng hệ thống truyện trạng cụ thể mà nhân vật trạng được giới thiệu đầy đủ hay khuyết thiếu. Nhìn chung, các truyện trạng cười đã bộc lộ rõ nét chân dung những con người cơ mưu tài trí, sáng tạo, tiêu biểu cho sức mạnh và ước mong của quần chúng nhân dân trong những thời đoạn lịch sử và xã hội nhất định. Giai đoạn xã hội phong kiến suy tàn và nửa thực dân là giai đoạn có nhiều truyện trạng ra đời bộc lộ thế đối kháng, mâu thuẫn rất rõ nét. Tiêu biểu có thể kể đến hệ thống truyện Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Thủ Thiệm, Nguyễn Kinh,… Hơn thế, bức tranh xã hội trải rộng qua ba miền Bắc Trung Nam cũng cho ta thấy những chân dung khác nhau của toàn bộ hệ thống truyện trạng cười người Việt. Không chỉ là tiếng cười chống xã hội thối nát, suy đồi mà còn có cả nụ cười hóm hỉnh của người dân khai phá vùng đất mới, nụ cười với thiên nhiên sông nước Nam Bộ, nụ cười của người nông dân Bắc Bộ quê mùa với những điều may mắn kỳ lạ của cuộc đời trạng Lợn, hay chỉ là tiếng cười vui, tếu, cười để mà cười của cư dân thành thị như Ba Giai - Tú Xuất… Nhìn chung, kho tàng truyện trạng cười người Việt đã đầy lên cả về số lượng và chất lượng một cách nhanh chóng, nhất là sau giai đoạn 1954 cùng với sự lớn mạnh của ngành khoa học folklore của nước nhà. Tuy nhiên cũng cần nhận rõ rằng, kho tàng truyện trạng cười đã được sưu tầm, mặc dù mang tính chất tiêu biểu nhất, song chưa phải là tất cả, chưa thật sự hoàn chỉnh. Những mẩu chuyện khác, những nhân vật trạng khác, được dân gian tiếp tục phong tặng sẽ làm giàu thêm kho tàng truyện trạng cười người Việt cùng hệ thống trạng cười của các dân tộc anh em ở Việt Nam .








