Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 05/12/2006 22:57 (GMT+7)

Triệu Đà với công cuộc truyền bá chữ Hán vào Việt Nam

Sử ký Tư Mã Thiênlà bộ sử liệu vĩ đại đáng tin cậy, nhưng từ một đoạn ghi chép trên mà suy luận rằng chẳng những tiếngmà cả chữHán được truyền đến Bắc bộ Việt Nam cùng đạo quân viễn chinh nhà Tần thì e chỉ là võ đoán. Vấn đề lại có ý nghĩa nguyên tắc từ góc độ giao lưu văn hoá Trung – Việt nên cuối năm 2003, tại “Hội Thảo quốc tế về truyền bá chữ Hán và giao lưu văn hoá Trung – Việt”, họp ở Thâm Quyến 19-21/12/2003, chúng tôi đã dành nửa đầu của báo cáo để đặt lại vấn đề với 2 ý kiến tranh luận, đó là:

1. Cùng với cuộc viễn chinh của quân Tần, bất quá mới chỉ có sự lan truyềntự nhiên (không thể gọi là truyền bá!)khẩu ngữ(tức tiếngHán), thường song hành với mọi cuộc xâm lấn và di dân, chứ chưa thể có chuyện truyền bá chữHán;

2. Chỉ sau khi Triệu Đà, Huyện lệnh Long Xuyên quận Nam Hải, lợi dụng thời cơ nhà Tần sụp đổ, năm 207 TCN chiếm lĩnh hai quận Quê Lâm và Tượng Quận, thiết lập vương triều cát cứ Nam Việt quốc (207-11 TCN), 18 năm sau thôn tính nốt nước Âu Lạc (208-179 TCN) của An Dương Vương, chữHán mới thực sự được truyền bá,tức được dạy một cách có chủ định ở vùng đất Bắc bộ và bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay (4).

Chứng minh ý kiến thứ nhất, chúng tôi biện luận như sau:

Theo chính Hán thưthì Tượng Quận không phải là Bắc bộ Việt Nam mà là vùng đất phía Tây của Quảng tây và phía Nam của Quý Châu (5), như vậy thì trong cuộc viễn chinh vào miền đát Lĩnh Nam của Bách Việt, quân Tần mới chỉ đánh chiếm được vùng đất của Mân Việt (Phúc Kiến , Quảng Đông), Dương Việt và tây Âu Việt (Quảng Tây và một phần Quý Châu), nhưng chưa chiếm cứ được đất Lạc Việt (tức nước Âu Lạc của An Dương Vương).

Một sử liệu đáng tin cậy khác là bức thư của Hoài Nam Vương Lưu An dâng lên can gián Hán Vũ Đế (140 -86 trươc CN) đem quân vào đất Việt, đã miêu tả quân Tần từng bị khốn đốn ở đất Việt (Lạc Việt? – V.T.K) như sau: “Đời Tần sai quan uý Đồ Thư đánh đất Việt, người Việt trốn vào rừng núi, đánh không được, đóng quân ở vùng đất trống không, lâu ngày quân lính mệt mỏi, rồi người Việt ra đánh, quân lính Tần đại bại” (6). Sách Hoài Nam Tử, cũng do chính Lưu An biên soạn, tả cảnh bại trận của quân tần còn thê thảm hơn: “Trong 3 năm không cởi giáp dãn nỏ [....] Người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư, thây phơi huyết chảy hàng mấy chục vạn người” (7).

Năm 214 mới chiếm được vùng Lĩnh Nam, đến đất Việt 3 năm chiến đấu liên miên (“không cởi giáp dãn nỏ”), bị thảm hại (chủ tướng bị giết, sĩ tốt thì phơi thây); 8 năm sau, 206 nhà Tần đã diệt vong, vậy thời gian đâu mà truyền bá chữ Hán?

Nêu ý kiến chữHán chỉ bắt đầu được truyền bá(được dạy và học có chủ định) từ vương triều của Triệu Đà, chúng tôi căn cứ vào hai sự kiện có trong sử sách Trung Hoa và Việt Nam , đó là:

a) Sử gia Việt Nam dẫn sách Thuỷ kinh chúcủa Trung Hoa, khẳng định rằng dưới triều đại Nam Việt quốc các Lạc tướng của Hùng Vương vẫn cai trị dân như cũ (8), tức Triệu đà chủ trương sử dụng các hào trưởng người Việt có uy tín và có lực lượng, lại thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập quán địa phương, để quản lý dân Lạc Việt; vậy thì để thông đạt các chiếu chỉ, mệnh lệnh, tất nhiên nhà Triệu phải tổ chức dạy cho họ chí ít biết đọc và viết được chữHán, tức là đến thời điểm ấy mới nay sinh nhu cầu khách quan về một văn tự làm công cụ cho hệ thống hành chính thống nhấtbao gồm người Hoa (ở triều đình trung ương) và người Việt (ở phủ, huyện, làng xã).

b) Triệu Đà, để tranh thủ hậu thuẫn của người Việt nhằm xưng đế, cát cứ một phương, độc lập với đế quốc Hán, đã chủ trương dung hợp văn hoá Hoa – Việt, tạo ra những dòng họ hỗn huyết Hoa – Viêt và dung hợp tự nhiên hai văn hoá Hoa và Việt.

Sự kiện thứ hai này là nhân tố thuận lợi thúc đẩy việc bắt đầu truyền bá chứ Hán vào đến tận cùng làng xã, chúng tôi đã cố gắng chứng minh chi tiết hơn như sau.

Triệu Đà vốn là người Hán ở đất Chân Định, nay thuộc tỉnh Hà Bắc – Trung Quốc, cho Trọng Thuỷ cầu hôn Mỵ Châu đương nhiên nhằm mục đích thôn tính Âu Lạc. Nhưng sau khi đã tiêu diệt triều đình An Dương Vương, theo Sử ký Tư Mã Thiên, Triệu đà tiếp tục chủ trương đó: dùng Lữ Gia mà chính Sử ký Tư Mã Thiên gọi là “Việt nhân” (đúng hơn phải nói là người Hán đã Việt hoá do sống giữa cộng đồng người Việt, cũng như Lý (Bôn) Nam Đế – V.T.K) và ghi nhận Gia “Làm thừa tướng 3 đời vua [...]. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em tôn thất của vua [...]; ở trong nước rất được tôn trọng, người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông, ông được lòng dân hơn vương” (9). Chẳng những thế, bản thân Đà đã chủ đông thích ứng với phong tục, tập quán của người Việt: trong thư dâng Hán Văn đế (179 – 156 trước CN), ông viết: “Lão phu ở đất Việt đã 49 năm, hiện đương bồng cháu”. Thâm ý của câu đó, khi họ Triệu tiếp sứ thần nhà Hán là Lục Giả, đã giải thích khá cụ thể bằng hành động “xoã tóc, ngồi chò hõ (tức ngồi xổm, chồm hỗm theo phong tục người Việt, chứ không búi tóc, ngồi quỳ gối theo nghi lễ Trung Hoa, - V.T.K.) mà tiếp” và cũng khá thẳng thừng đáp lại lời Giả trách Đà là “phản thiên tính” (tức quên phọc tục mẹ đẻ là người Hán!): “Tôi ở trong xứ mọi rợ lâu ngày, quên hết lễ nghĩa rồi” (tức không theo nghi lễ của người Hán nữa!( (10). Có thể nói rằng họ Triệu và họ Lữ (Lã) là những đại biểu sớm nhất của các dòng họ cổ đại hoà trộn hai huyết thống Việt và Hoa được sử sách ghi lại, tức cũng xác nhận vào thời điểm đó mới bắt đầu hình thành nhân tố thuận lợithúc đẩy sự truyền bá chữ Hán và giao lưu văn hoá Trung – Việt.

Việc Triệu Đà chủ trương dung hợp hai nền văn hoá Hoa và Việt, gần đây được chính một số học giả Trung Quốc khẳng định. Sau khi tham dự Hội thảo Thâm Quyến, trên đường về Quảng Châu, nhân ghé thăm khu mộ của cháu Triệu Đà là Văn Vương Triệu Muội, chúng tôi mua được sách Lĩnh Nam chi quang, miêu tả việc khai quật khu mộ đá này năm 1983. Các tác giả sách viết: Triệu Đà... “thúc đẩy chính sách dân tộc “hoà tập Bách Việt”, xúc tiến quá trình dung hợp dân tộc Hán – Việt và phát triển kinh tế – văn hoá” (11).

Khách quan mà nói, quan điểm về sự dung hợp hai nền văn hoá Việt và Hoa dưới triều đại Triệu Đà trong toàn cõi Nam Việt quốc đã từng được một số nhà sử học Sài Gòn nêu lên khá sớm, nhưng đúng như nhà sử học Đào Hùng, Phó tổng biên tập tạp chí Xưa & Nay, nhận định trong Lời giới thiệu công trình cực kỳ lý thú của tiến sĩ năm thứ nhất Đại học Văn khoa Sài Gòn Tạ Chí Đại Trường, xuất bản năm 1989 tại Hoa Kỳ, đến đầu năm 2006 này mới được in lại ở Việt Nam, nhan đề Thần, người và đất Việt: “Trải qua một thời gian dài giới nghiên cứu chúng ta thường bị những động cơ chính trị chi phối nên việc nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiên kiến. Có thể nói một trong những thiên kiến như vậy là quan điểm chính thống trong giới sử học miền Bắc coi nhà Triệu là kẻ xâm lược, mà đã là kẻ xâm lược thì phải xấu, không thể có đóng góp gì đáng bàn nữa! Trong công trình nói trên, với một phương pháp nghiên cứu khách quan, không bị lập trường chính trị o ép, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường xuất phát từ luận điểm về sự liên tục văn hoá và căn cứ thực tế lịch sử về giao lưu văn hoá của cộng đồng người Việt với Hán, Chămpa và các tộc người khác, đã phát biểu những ý kiến xác đáng, nêu một nhận xét táo bạo, nhưng theo chúng tôi, không phải không có lý rằng: “Ranh giới Giao [tức Giao Chỉ] – Quảng [tức Quảng Đông, Quảng Tây] còn nhập nhoà trong trận chiến Lý – Tống (1075 – 1077) khi Lý đem quân qua châu Khâm,châu Liêm có người giúp đỡ, nội ứng...” (12), tức theo ông, trải qua hơn nghìn năm vẫn tồn tại những truyền thống bắt nguồn từ sự dung hợp văn hoá Hoa và Việt từ thời Triệu Đà khiến ít ra một bộ phận dân chúng vùng Lưỡng Quảng không hề mặc cảm đạo quân viễn chinh của Đại Việt là những kẻ dị chủng xâm lược.

Bốn chục năm trước đây, khoảng năm 1962/63, chúng tôi từng được nghe một vị sư già ở chùa Thầy nói xương cốt dưới hang chùa là của binh lính Lữ Gia không chịu ra đầu hàng, bị quân Hán vây đến chết đói ở dưới đó. Ngay ở Hà Nội cho đến năm 1979 vẫn còn phố Lữ Gia (nay là phố Lê Ngọc Hân). Tại một số địa phương trên đất Việt Nam ngày nay dân chúng vẫn thờ Triều Đà và Lữ Gia. Chẳng han, ở làng Đồng Xâm xã Hồng Thái huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình vẫn còn di tích một đền uy nghi, được xếp hạng như di tích thờ vị Tổ nghề chạm bạc truyền thống. Thực ra, Tổ nghề Nguyễn Kim Lâu chỉ được thờ trong một cái am nhỏ ở địa điểm khác. Đây cũng là một bằng chứng về cái sự “bị động cơ chính trị chi phối”, khiến người ta phải làm sai lệch sự thật về ngôi đền này, bất chấp thư tịch lịch sử và địa chí. Danh sĩ cuối đời Lê là Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ (1726-1780) viết rành rành trong công trình nổi tiếng Việt sử tiêu án: “...làng Đường Xâm quận Giao Chỉ (nay là Đường Xâm huyện Chân Định) có miếu thờ Triệu Đà...” (13) Huyện Chân Định sang triều Nguyễn thuộc phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định, đến 1894, phủ Kiến Xương cắt về tỉnh Thái Bình mới lập, sau bỏ phủ, đổi gọi là huyện Kiến Xương. Năm 1924 nhà địa dư học Ngô Vi Liễn còn ghi ở chương “Tỉnh Thái Bình” trong sách Địa dư các tỉnh Bắc kỳ(14): “Đền Triệu Vũ Đế ở làng Thượng Gia, phủ Kiến Xương, hội về ngày mồng 1 tháng tư:). Cũng sách của Ngô Vi Liễn cho biết: làng Thượng Gia thuộc tổng Đồng Xâm (sách đời Nguyễn Gia Long còn gọi là tổng Đường Xâm).

Tâm thức dân Việt không phải ngẫu nhiên vẫn tôn thờ Triệu Đà. Ngoài công “hoà tập Bách Việt”, phát triển kinh tế và văn hoá, biến cả miền Lĩnh Namthành ánh hào quang (=Lĩnh Nam chi quang), họ Triệu đã Việt hoá từng cùng dân Việt chống ngoại xâm. Sử ký Tư Mã Thiênviết rằng thời Triệu Minh Vương (chắt của Triệu Đà) vẫn còn đang là thái tử Anh Tề, phải vào làm con tin tại triều đình nhà Hán, lấy gái Hán ở Hàm Đan họ Cù, đẻ ra con trai là Hưng, sau được nối ngôi, nên Cù thị trở thành thái hậu Nam Việt quốc; hồi còn trên đất Trung Quốc, đã là vợ Anh Tề, Cù thị vẫn dan díu với người huyện Bá Lăng là An Quốc Thiếu Quý, nay thấy Thiếu Quý sang làm sứ giả, lại cùng gian dâm, rồi khuyên vua quan Nam Việt xin “nội thuộc” nhà Hán... “bọn Lữ Gia bèn làm phản, ra lệnh trong nước: “Vương tuổi còn trẻ, thái hậu là người Trung Quốc, lại dan díu với sứ giả, chỉ muốn nội thuộc[...]”. Lữ Gia bèn cùng em đem quân đánh giết vương, thái hậu cùng các sứ giả của nhà Hán [...]; lập Vệ Dương hầu Kiến Đức, người con trai đầu của Minh Vương, vợ (Đại Việtsử ký toàn thư ghi “mẹ”,- V.T.K) là người Việt, làm vua [...], đem quân đánh bọn Thiên Thu (tướng nhà Hán), diệt được họ cách Phiên Ngung (nay là Quảng Châu) 40 dặm. Gia sai người phong gói cờ tiết của sứ giả để ở cửa ải, khéo nói dối để tạ tội, rồi đem quân đóng giữ những nơihiểm yếu” (chúng tôi nhấn mạnh, - V.T.K) (15).

Rõ ràng vương triều họ Triệu cùng vị Thừa tướng “Việt nhân”, “được lòng dân hơn vương”, là những người đầu tiên, trước Hai Bà Trưng cả 144 năm, đã chống xâm lược nhà Hán. Cuộc kháng chiến của họ dẫu được dân Việt ủng hộ, vẫn thất bại do tương quan lực lượng qúa chênh lệch ở thời buổi nhà Hán vừa mới diệt Tần lên làm chủ Trung Hoa, đang trở thành một đế chế hùng mạnh. Nhưng cũng như một người xưa, Tiến sĩ Vũ Tông Phan, đã viết về Hai Bà Trưng trên tấm bia lập năm 1840, hiện vẫn dựng giữa sân đền thờ Hai Bà ở đồng Nhân – Hà Nội: “Việc làm của kẻ trượng phu không thể lấy thành hay bại mà bàn luận” (16).

Sử sách nước ta qua các thời đại khác nhau có nhiều quan điểm khác nhau về vương triều nam Việt. Đại Việt sử lược, bộ sử thời Lý – Trần (TK XII – XIII) chép “Nhà Triệu” ngang hàng với các “Nhà”Ngô, Đinh, Lê (Đại Hành), Lý. An Nam chí lược(đầu TK XIV) , do Lê Tắc viết trên đát Trung Quốc nên không dám dùng chữ “kỷ” mà tư Mã Thiên chỉ dành riêng cho các triều đại hoàng đế Trung Hoa, gọi Triệu là “thế gia”(“Triệu thị thế gia”) ngang hàng các “ thế gia”Đinh, Lê, Lý, tức vẫn coi là một triều đại thuộc sử Đại Việt, Nguyễn Trãi coi quốc thống Đại Việt trước nhà Lê gồm cả Triệu, Đinh, Lý, Trần. Trong Bình Ngô đại cáonăm 1427 ông tuyên bố:

Xét như nước Đại Việt ta,

Thực là một nước văn hiến

Cõi bờ sông núi đã riêng,

Phong tục Bác Nam cũng khác.

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.

Theo tinh thần đó Đại Việt sử ký toàn thưchép nhà Triệu như một triều đại chính thống của Đại Việt. Đến cuối thế kỷ XVIII, Việt sử tiêu ánĐại Việt sử ký tiền biêncủa Ngô Thì Sĩ phê phán chép sử Việt như thế là sai và đưa nhà Triệu ra ngoài, gọi riêng là “ngoại quốc”, để phân biệt với giai đoạn “Bắc thuộc” sau này, khi nước ta “nội thuộc” Trung Quốc. Quốc sử quán triều Nguyễn theo như thế, có lẽ còn vì lý do năm 1804 vua Gia Long xin đặt quốc hiệu là “Nam Việt”, nhưng hoàng đế nhà Thanh không chuẩn cho, hẳn e ngại sự tái diễn việc cầu hôn một công chúa Trung Hoa và xin lại đất Lưỡng Quảng mà Quang Trung đã đặt ra. để rạch ròi, triều Thanh đề nghị quốc hiệu “Việt Nam”, nhưng vua Gia Long không chấp thuận, tự đặt quốc hiệu là Đại Nam. Đến đầu thế ký XX, khi nước ta đã thành thuộc địa của Pháp, quyền uy Trung Hoa không còn tác dụng nữa, sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược(viết 1919, in 1921) mới lại đưa “nhà Triệu” vào quốc thống Đại Việt.

Nếu Quang Trung không mất sớm thì sẽ ra sao nhỉ?

Nhưng lịch sử không chấp nhận chữ “nếu”.Lịch sử đã an bài từ lâu. Ngày nay Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng hữu nghị, với biên giới đã xác định. Bởi vậy trong báo cáo tại Hội thảo Thâm Quyến 2003, chúng tôi đã nói rõ chỉ xem xét vương triều Triệu Đà thuần tuý từgóc độ giao lưu văn hoá.Nay xin một lần nữa nhấn mạnh như vậy.

----------------------

Tài liệu đã sử dụng

1. ChuKhánh Sinh: “Tòng sơ thuỷ đáo thịnh hành: Hán tự đích Đông hướng truyền bá” (tiếng Hán) – trong sách Hán tự đích ứng dụng dữ truyền bá.Triệu Lệ Minh & Hoàng Quốc Doanh biên, Hoa ngữ Giáo dục xuất bản xã, Bắc kinh 2000, tr.106-129.

2. Sử ký Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch, - nxb Văn học, Hà Nội 1988, T.I, tr.48.

3. PGS Trần Nghĩa: Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt ttrước thế kỷthứ X, nxb Thế giới, Hà Nội 2000, tr, 52-55.

4. Các luận điểm trên (bằng chữ Hán) đã được công bố trong Kỷ yếu “Hán tự truyền bá kýTrung – Việt giao lưu quốc tế nghiên thảo hội. Luận văn đề yếu/toàn văn”,Thâm Quyến 19 -21/12/2003, Thương vụ ấn quán,m tr.55. Trong tham luận đọc tại Hội thảo này (không kịp gửi đăng trước ở Kỷ yếu), PGS Trần Nghĩa có dẫn sách Tiền Hán thưđể phát biểu ý nghi ngờ địa vực Tượng Quận bao gồm cả đất Âu Lạc, một năm sau, đến Hội thảo quốc tế về Nho học ở Việt Nam,do Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam và Viện Harvard Yenching Hoa Kỳ đồng tổ chức tại hà Nội vào 17-18/12/2004, PGS Nghĩa cũng đã khẳng định chỉ từ thời Triệu Đà chữ Hán mới thực sự du nhập Việt Nam – xin xem thêm Kỷ yếucùng tên của Hội thảo Hà Nội 2004, tr.227.

5. Dẫn theo chú thích 3 của PGS Ngô đức Thọ trong Đại Việt sử ký toàn thưdo GS Phan Huy Lê khảo cứu văn bản, PGS Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, nxb KHXH, Hà Nội 1998, T, I. tr. 138

6. Lê Tắc: An Nam chí lược. Nhóm GS Trần Kính Hoà dịch, PGS Chương Thâu giới thiệu – nxb Thuận Hoá & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội 2002, tr.129; toàn văn chữ Hán tr.421-423.

7. Dẫn theo chú thích 28, chương Ngoại kỷ – quyển I, của học giả Đào Duy Anh trong ĐạiViệt sử ký toàn thưdo Cao Huy Giu dịch, nxb KHXH, Hà Nội 1972, T.I, tr 315.

8. Khâm định Việt sử thông giám cương mục– nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, T,I, tr. 89 và 107.

9. Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt uý Đà liệt truyện, sđd, T.II, tr.377-378.

10. Lê Tắc: An Nam chí lược, sđd, tr.101-102; nguyên văn chữ Hán tr.404.

11. Hạ Anh Hào & Vương Văn Kiến: Lĩnh Nam chi quang, Nam Việt Phương mộ khảo cổ đại phát hiện. – Triết Giang văn nghệ xuất bản xã 2005, tr4, Đại Việt sử ký toàn thưghi Triệu Văn Vương tên huý là Hồ, con trai Trọng Thuỷ. Hai tác giả Trung Quốc không nhắc gì tới Trọng Thuỷ, chỉ viết tính theo tuổi Triệu Muội không thể là cháu trưởng của Triệu Đà.

12. Tạ Chí Đại Trường: Thần người và đất Việt– nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 2006, tr.74.

13. Ngô Thì Sĩ: Việt sử tiêu án – nxb Thanh niên 2001, tr.27.

14. Ngô Vi Liễn: Tên làng xã và Địa dư các tỉnh Bắc kỳ, - nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 1999, tr.672.

15. Sử ký Tư Mã Thiên, sđd, T.H, tr.379.

16. Vũ Tông Phan, cuộc đời và thơ văn. Vũ Thế Khôi biên khảo, tuyển chọn và dịch – nxb Văn học, Hà Nội 1995, tr.224; sách có kèm theo nguyên bản chữ Hán, các trang mang ký hiệu 41a-41b.


Nguồn :   TC Xưa – Nay, số 265, 8/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch Phan Xuân Dũng: Hội Chăn nuôi Việt Nam góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN vào phát triển đất nước
Phát biểu chúc mừng Hội Chăn nuôi Việt Nam nhân Kỷ niệm 35 năm thành lập (19/4/1991 - 19/4/2026), Chủ tịch Phan Xuân Dũng khẳng định, với sự năng động và chuyên nghiệp, Hội Chăn nuôi Việt Nam đã góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN trong sự nghiệp phát triển đất nước. Chủ tịch Phan Xuân Dũng đề nghị các thành viên của Hội giữ lửa đam mê, lấy khoa học công nghệ làm động lực phát triển.
Toàn văn Tuyên bố chung nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Toàn văn Tuyên bố chung giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc tiếp tục làm sâu sắc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới.
An Giang: Triển khai Cuộc thi và Hội thi Sáng tạo lần thứ I sau sáp nhập
Sáng ngày 16/4, tại phường Rạch Giá, Ban Tổ chức đã triển khai các văn bản Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh An Giang lần thứ I năm 2026 (Cuộc thi) và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh An Giang lần thứ I năm 2026 - 2027 (Hội thi). Đây là năm đầu tiên hai sân chơi sáng tạo được tổ chức sau khi tỉnh An Giang mới được hình thành, do đó quy mô và yêu cầu tổ chức có nhiều điểm đổi mới.
Sách, Tri thức và Khát vọng phát triển đất nước
Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước là một trong những thông điệp của Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 2026. Việc đề cao mối quan hệ mật thiết giữa các giá trị này không chỉ là sự tiếp nối truyền thống hiếu học, mà còn xác lập vai trò quyết định của tri thức đối với sức mạnh tổng thể và sự phát triển bền vững của đất nước.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ 17, khóa VIII: Thống nhất các nội dung chuẩn bị cho Đại hội IX
Chiều ngày 16/4, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), Hội nghị Đoàn Chủ tịch Hội đồng Trung ương lần thứ 17, khóa VIII đã được tổ chức dưới sự chủ trì của đồng chí Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp Hội Việt Nam và đồng chí Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam.
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ 2024-2029
Căn cứ số lượng, cơ cấu thành phần Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam khóa X thông qua và tổ chức bộ máy của Ủy ban MTTQ Việt Nam theo mô hình mới. Ngày 12/4/2026, Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã hiệp thương cử nhân sự tham gia Ủy ban, Đoàn Chủ tịch và giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban TƯ MTTQ Việt Nam khóa X, nhiệm kỳ 2024-2029.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Lễ khai mạc Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 152
Chiều tối 15/4, giờ địa phương, đêm cùng ngày giờ Việt Nam, tại Istanbul, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã dự Lễ khai mạc Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 152 (IPU - 152) với chủ đề “Nuôi dưỡng hy vọng, bảo đảm hòa bình và bảo vệ công lý cho các thế hệ tương lai”.
Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX tổ chức phiên họp lần thứ nhất
Sáng ngày 16/4, Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031 đã tổ chức phiên họp lần thứ nhất, đánh dấu bước khởi đầu chính thức cho công tác tổ chức Đại hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Sáng 15/4, sau Lễ đón cấp Nhà nước tại Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã hội đàm với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình.
Dấu ấn Mặt trận trong thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Thực hiện sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp và các quy định về quyền và trách nhiệm của MTTQ VN, MTTQ VN các cấp đã chủ động, tích cực, sáng tạo, linh hoạt phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đã tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 -2031, bảo đảm thời gian, đúng quy định của pháp luật.
Trung tâm SUDECOM khởi động dự án hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số tại tỉnh Lào Cai
Ngày 7/4, tại tỉnh Lào Cai, Đoàn công tác của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tham dự Hội nghị triển khai dự án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo việc làm cho thanh niên cộng đồng các dân tộc miền núi tại tỉnh Lào Cai” của Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM).
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tiếp cận mới trong chăm sóc sức khỏe người trẻ
Sáng ngày 10/4, tại Trường Cao đẳng Bình Thuận, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Trường Cao đẳng Bình Thuận tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tác động của nhịp thở có kiểm soát lên biến thiên nhịp tim (HRV) và nồng độ Cortisol huyết thanh ở người trẻ”.
Vĩnh Long: Hội thi Trần Đại Nghĩa là "người dẫn đường" cho phong trào khoa học công nghệ của tỉnh
Trong bối cảnh toàn quốc đang quyết tâm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (STKT) Trần Đại Nghĩa đã không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, từ khâu tuyên truyền đến hỗ trợ tác giả, nhằm tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngay tại cơ sở.
Đắk Lắk: Hướng đi xanh từ thủy sản và vỏ dứa
Từ những phụ phẩm tưởng chừng phải bỏ đi trong ngành thủy hải sản và chế biến hàng thủy sản, có một giải pháp kỹ thuật đã mở ra hướng đi mới: sản xuất phân bón hữu cơ sinh học giàu đạm, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững và giảm áp lực môi trường.