Triển vọng sản xuất lúa lai
Niềm vui nơi đồng ruộng
Nhiều nông dân thuộc ngoại thành Hà Nội và đại diện các cơ quan của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đại diện lãnh đạo ngành nông nghiệp một số địa phương lân cận đã có mặt trên xứ đồng Hương, thôn Ngọc Ðộng. Xứ đồng có quy mô năm ha, đều là ruộng sản xuất lúa lai F1. Mọi người sà xuống ruộng, mê mải với những bông lúa lai trĩu hạt đã ngả vàng. Chị Ðặng Thị Quyên ở đội 1 cho biết, nhà chị có hơn mẫu ruộng, trong đó có ba sào lúa lai F1. Ðây đã là vụ thứ hai, chị Quyên sản xuất giống. Mỗi sào, chị Quyên ước thu được hơn một tạ giống, bán được hơn 800 nghìn đồng, gấp ba gía trị lúa thuần. Số ruộng còn lại, chị cấy lúa lai thương phẩm, năng suất khoảng hai tạ/sào. "Không cao nhưng gạo ngon, bán được lắm".
Ở xứ đồng Hương, chị Nguyễn Thị Kha có diện tích nhiều nhất với 6,5 sào. Dù là lần đầu tham gia sản xuất giống, nhưng chị cho biết kỹ thuật trồng không phức tạp. Ước tính, chị sẽ thu hoạch chừng sáu tạ lúa, giá trị gần năm triệu đồng.
Nhờ tích cực đưa giống mới vào trồng nên nông dân Ða Tốn không xa lạ với công nghệ trồng lúa lai. Ðồng chí Bùi Văn Mạ, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết, từ năm 2002, Viện Sinh học nông nghiệp và xã phối hợp, khảo nghiệm thử vài kg giống TH3-3. Ðến vụ mùa năm 2004 thì kết quả sản xuất bắt đầu khả quan. Năm 2005, khi được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chính thức công nhận giống TH3-3 là giống quốc gia, xã dành 12 mẫu trong vụ mùa năm 2005 sản xuất giống, cuối vụ thu được hơn 15 tấn giống. Viện đã nhận bao tiêu toàn bộ số giống này. Do lợi nhuận cao, lại từng bước nắm vững kỹ thuật, vụ mùa này, xã mở rộng vùng sản xuất giống lên 30 ha với 300 hộ dân tham gia, trong đó 20 ha giống TH3-3, 10 ha giống TH3-4. Kết quả cho thấy, giống TH3-3 cho năng suất thực thu 31-33 tạ/ha; giống TH3-4 cho bình quân 22-25 tạ/ha. Trong khi đó, theo Cục Trồng trọt, năng suất bình quân lúa lai F1 của cả nước năm nay đạt khoảng 20 tạ/ha.
Trong vụ xuân 2006, Ða Tốn có hơn 70 ha sản xuất lúa lai TH3-3 và TH3-4 thương phẩm, đạt bình quân 62 tạ/ha. Ðây không phải là năng suất cao so với các giống lai khác, nhưng bù lại, chất lượng gạo khá ngon, nhờ thế, giá bán cũng cao hơn. Các anh Trần Trí Nguyện ở thôn Thuận Tốn, Phạm Văn Ðáng ở thôn Ðào Xuyên (cùng xã Ða Tốn), đến tham quan mô hình cho biết, ở xã có nhiều người thu mua gạo rồi đóng gói bán cho các siêu thị, khách sạn với giá 6.000-7.000 đồng/kg. Còn theo ông Lê Văn Tấn, Chủ nhiệm HTX Ða Tốn, thì mô hình sản xuất lúa lai F1 đã giúp các hộ nông dân tăng 20% thu nhập, đồng thời tiếp cận và nắm vững quy trình sản xuất loại giống này.
Từ kết quả trên, đồng chí Mạ cho biết: Trong năm 2007, xã tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất giống F1, đồng thời tăng diện tích lúa lai TH3-3 thương phẩm lên 50% trên tổng diện tích 449 ha đất nông nghiệp, còn lại sẽ là các giống nếp, và đặc sản khác. "Chúng tôi coi đây là giải pháp quan trọng để đạt thu nhập bình quân 70 triệu đồng/ha canh tác vào năm 2010".
Một đời người, hai giống lúa
Ít ai biết được rằng, quá trình ra đời hai giống lúa kể trên cũng là hành trình không mệt mỏi, đi gần hết cuộc đời của một nhà khoa học thuộc Viện Sinh học nông nghiệp. Ðó là PGS.TS Nguyễn Thị Trâm. Ba, bốn năm gần đây, lần nào đi các tỉnh Nam Ðịnh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An cho đến các tỉnh miền núi phía bắc, tôi cũng gặp một phụ nữ đứng tuổi tay sách túi, cặm cụi vuốt ve từng bông lúa. Lần này cũng thế. Tay cầm bông lúa, đôi mắt ánh lên niềm vui, chị Trâm bảo: Ðây là lúa lai Việt Nam đấy. Cũng chuẩn bị về hưu rồi, nhưng giờ người dân nắm bắt được kỹ thuật sản xuất hạt lai thì cũng yên tâm. Từng là giảng viên chuyên về lúa lai của Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội, rồi Viện phó Viện Sinh học nông nghiệp, PGS.TS Trâm cho biết: năm 1992, khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trương đưa cây lúa lai vào đồng ruộng, chị là một trong năm cán bộ khoa học của nước ta được cử sang Trung Quốc tập huấn kỹ thuật sản xuất lúa lai với mục đích chủ yếu về giảng dạy cho tầng lớp sinh viên nông nghiệp. Chị âm thầm sưu tầm tài liệu, nguồn gien và ấp ủ ước mơ cho ra đời giống lúa lai Việt Nam . Từ đó, vừa giảng dạy vừa tích cực chọn tạo, đến năm 1997, chị Trâm lựa chọn được những dòng bất dục đầu tiên, bắt đầu cho lai thử rồi liên tục làm thuần dòng. Năm 2000, từ hàng nghìn tổ hợp lai, chị Trâm chọn tạo được giống TH3-3. Năm 2001, chị thu được năm kg đầu tiên. Năm 2002 bắt đầu đưa ra đồng ruộng ở Ða Tốn. Cứ vụ xuân thì mang lên Tam Ðảo (do có khí hậu lạnh) để nhân dòng bất dục, vụ mùa mang về trồng ở xã. Trong quá trình làm, chị và các cộng sự của viện đã chọn, bổ sung các gien kháng bệnh, đặc biệt là các gien giàu prô-tê-in. Với các ưu điểm như thời gian sinh trưởng ngắn, phù hợp nhiều chân đất, sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đến nay, chị Trâm thống kê được trong vụ xuân 2006 đã có 26 tỉnh, thành phố đưa TH3-3 vào gieo cấy với diện tích khoảng 10 nghìn ha. Tổng diện tích sản xuất lúa lai F1 trong vụ mùa năm nay đạt khoảng 150 ha, ước tính sản lượng 450 tấn, đủ để trồng trên diện tích 14-15 nghìn ha. "Nếu kỹ thuật sản xuất hạt lai F1 được chuyển giao đến nhân dân nhanh hơn, sẽ góp phần để nước ta chủ động nguồn giống lai với chất lượng cao".
Theo đánh giá của ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, thì với năng suất bình quân 7-8 tấn/ha trong vụ xuân; 6 tấn/ha trong vụ mùa và với chất lượng gạo ngon, giống lúa lai hai dòng TH3-3, TH3-4 đáp ứng được yêu cầu sản xuất hiện nay của các tỉnh phía bắc và miền trung. Cục Trồng trọt đã xây dựng kế hoạch mở rộng diện tích gieo giống lúa này trong những năm tới, trước mắt sẽ hỗ trợ sáu triệu đồng/ha sản xuất hạt lai F1 để nhân nhanh nguồn cung ứng giống. Tuy nhiên, ông Ngọc cũng đánh giá, mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng TH3-3 vẫn cần hoàn thiện hơn về độ thuần, khả năng chống chịu bạc lá và chống đổ.
Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống cây trồng T.Ư đã kiểm định đồng ruộng tại diện tích sản xuất lúa lai F1 của Ða Tốn và khẳng định lô giống đạt chất lượng tốt, chất lượng giống của 30 ha trên đạt tiêu chuẩn TCN-551-2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Hiện nay, trên đồng ruộng nước ta có hàng chục tổ hợp giống lúa lai, nhưng những giống lúa lai "made in Việt Nam " thì mới chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Từ trước đến nay, sản xuất lúa lai, nhất là lúa lai F1 ở nước ta chủ yếu phát triển trong vụ xuân, còn vụ mùa rất hạn chế vì thời tiết và sâu bệnh. Rõ ràng, việc chuyển giao thành công công nghệ sản xuất hạt lai F1 của tổ hợp lai Việt Nam TH3-3, TH3-4 đã mở ra một triển vọng mới trong sản xuất giống lúa lai của nước ta.
Nguồn: kinhtenongthon.com.vn (04/12/06)








