Trách nhiệm lịch sử sĩ phu Thanh Hoá
Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, trước những âm mưu xâm lược của thực dân phương Tây, những nguyên lý của Khổng giáo đã tỏ ra lung lay, người sĩ phu bị đặt trước sự lựa chọn mới, phải tìm con đường mới để đưa đất nước ra khỏi nguy cơ bị xâm lược.
Sự lựa chọn đó đã thúc đẩy một số sĩ phu yêu nước đưa ra những đề nghị cải cách, thể hiện bằng những bản điều trần dâng lên vua Tự Đức. Nhưng tầng lớp sĩ phu Nho học thời đó đã không hoàn thành được trách nhiệm lịch sử của mình, mặc dầu nhiều người có tâm huyết, nhưng vẫn không vượt khỏi được hạn chế của ý thức hệ, nên họ không thể trở thành động lực cho công cuộc canh tân. Nhiều người giữ trọng trách trong triều đình vẫn phụ hoạ với nhà vua để gạt bỏ những đề nghị cải cách. Có thể nói tầng lớp sĩ phu thời đó đã thất bại trước thách thức lịch sử để đưa dân tộc ra khỏi thảm hoạ mất nước.
Nhưng sau khi quân Pháp mở rộng cuộc xâm lăng, tiến đến thiết lập nền đô hộ trên khắp đất nước, thì một bộ phận lớn sĩ phu yêu nước đã chọn con đường kháng chiến, dù có lúc cuộc chiến đấu đó đang trở thành vô vọng. Nhưng với ý thức ‘sát thân thành nhân’, giới sĩ phu đã anh dũng đứng lên kêu gọi nhân dân chống giặc dưới lá cờ Cần Vương. Trong phong trào đó, sĩ phu Thanh Hoá đã nêu được nhiều tấm gương oanh liệt, mà cuộc khởi nghĩa Ba Đình là một minh chứng, khiến quân Pháp phải mất nhiều năm mới bình định được.
Sang đầu thế kỷ XX, khi những cuộc khởi nghĩa vũ trang lần lượt bị dập tắt, một cuộc vận động mới đã lôi kéo tầng lớp sĩ phu, trong đó có nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng, bước vào một cuộc đấu tranh mới. Đó là cuộc vận động Duy Tân xuất phát từ tỉnh Quảng Nam rồi dần dần lan ra các tỉnh khác ở miền Trung. Năm 1906, Phan Châu Trinh, một trong những người khởi xướng phong trào đã đi qua Thanh Hoá trên đường từ Nhật Bản trở về, đã có dịp tiếp xúc với sĩ phu Thanh Hoá để truyền đạt chủ thuyết “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Đó là những hạt nhân nòng cốt để truyền bá tư tưởng duy tân trong tỉnh. Một trong những yếu nhân của phong trào Đông Du, đồng chí của Phan Bội Châu, là Nguyễn Thượng Hiền, từng làm Đốc học Thanh Hoá, nên đã có tác dụng thúc đẩy nhân sĩ thức tỉnh Thanh tham gia phong trào.
Chúng ta hãy xem các sĩ phu Thanh Hoá tham gia phong trào là những người như thế nào? Đó là các sĩ phu nho học, đã trải qua trường ốc, nếu không phải cử nhân thì cũng là tú tài, những người có đủ điều kiện để được bổ nhiệm làm quan trong chính quyền Nam triều. Hơn nữa, phần lớn đó là những người có gia tư điền sản vào loại khá giả, khác với người nông dân bần cùng, cuộc xâm lược của thực dân Pháp không làm đảo lộn nhiều lắm đời sống vật chất của họ. Vậy không phải vì bị đẩy vào con đường cùng mà những người đó phải đứng lên phản kháng, mà chỉ vì được thôi thúc bởi lòng yêu nước, mặt dầu trong cuộc đấu tranh đó họ biết rằng tài sản của mình có thể bị nhà cầm quyền tịch thu nếu công việc bại lộ.
Đầu thế kỷ XX, trong cuộc đấu tranh chống chế độ cai trị thối nát của bộ máy quan lại Nam triều, nhiều nhà cải cách trong đó nổi bật là Phan Châu Trinh, đã lên án lối giáo dục khoa cử xưa, chỉ đào tạo ra những kẻ bảo thủ chỉ biết cúi đầu làm nô lệ cho quan trên. Trên tinh thần phản kháng thời đó, người ta chỉ nhìn thấy các nhà khoa bảng tiếp tục ra làm quan để duy trì triều đình bù nhìn phong kiến, cũng như tham gia vào bộ máy đàn áp của thực dân, mà không thấy một bộ phận lớn sĩ phu nho học dám từ bỏ con đường ra làm quan để tỏ thái độ bất hợp tác. Cách nhìn đó còn tiếp tục ảnh hưởng đến thế hệ Tây học sau này, cũng từng đánh giá các nhà nho là những người lỗi thời lạc hậu, mang mối hoài niệm bất mãn với thời cuộc, luyến tiếc quá khứ vinh quang của thời nho học thịnh hành. Thậm chí trên báo chí những năm 1930 – 1940 vân còn chế diễu các nhà nho là những người cản trở sự tiến bộ của xã hội. Nhưng sự thật không phải như vậy. Chính các sĩ phu yêu nước đã nhìn thấy con đường canh tân, tích cực tham gia các phong trào cải cách đầu thế kỷ XX, đặt cơ sở đầu tiên cho những cuộc vận động rộng lớn hơn sau này. Điều đó khiến ta cần phải nhìn lại cách đánh giá một thời không đúng và phiến diện đối với vai trò tầng lớp sĩ phu nho học.
Trong 9 nhân vật mà Phan Châu Trinh có dịp tiếp xúc, ta thấy có 3 vị tú tài là: Lê Nguyễn Thành (43 tuổi), Nguyễn Lợi Thiệp (42 tuổi) và Lê Duy Tá (23 tuổi); 4 vị cử nhân là: Nguyễn Xứng (39 tuổi), Nguyễn Soạn (35 tuổi), Hoàng Văn Khải (32 tuổi) và Lê Trọng Nhị (28 tuổi); còn lại là 2 công chức của chính quyền Nam triều và chính quyền Pháp, cửu phẩm Lê Văn Tiến (51 tuổi) và thông sự Nguyễn Chí Tín, một thanh niên mới 21 tuổi. Đáng tiếc là khi phong trào cự sưu kháng thuế ở các tỉnh miền Trung bùng nổ rộng khắp ở nhiều nơi, các sĩ phu Thanh Hoá còn đang ở giai đoạn chuẩn bị kế hoạch hưởng ứng, thì đã bị bại lộ do có kẻ mưu phản. 9 nhân vật cầm đầu phong trào đều bị bắt. Mặc dầu chưa có bằng chứng cụ thể về các hành động chống đối, nhưng thực dân Pháp vẫn kết án rất nặng không kém gì sĩ phu các tỉnh khác, vì chúng đã nhìn thấy tầm ảnh hưởng rộng lớn của cuộc vận động này. Trong số sĩ phu Thanh Hoá bị bắt, có 2 vị bị kết án “trảm giam hậu” là cử nhân Nguyễn Xứng và tú tài Lê Duy Tá. Sau này ở Côn Đảo, tú tài Nguyễn Lợi Thiệp vì 2 lần vượt ngục không thành nên cũng bị nâng lên thành án chém.
Có thể nói 9 nhân vật kể trên là đại diện cho tinh thần yêu nước của sĩ phu Thanh Hoá, đã không quản nguy hiểm, đứng ra gánh vác trách nhiệm với non sông. Tinh thần yêu nước của các vị là minh chứng cho trách nhiệm lịch sử của tầng lớp trí thức nho học Việt Nam . Vai trò lịch sử của tầng lớp đó chưa phải đã kết thúc, mà chính nó đang chuyển biến để duy trì truyền thống yêu nước cho con cháu về sau. Có nhiều vấn đề chúng ta cần phải tìm hiểu về tầng lớp sĩ phu nho học này. Không phải chỉ căn cứ trên những tư liệu được công bố trên sách báo, mà cần phải tiến hành nhiều cuộc điều tra hồi cố trên thực địa thì mới có thể nhìn thấy những hoạt động âm thầm của tầng lớp sĩ phu này sau khi đã rút lui khỏi chính trường. Không phải ngẫu nhiên mà một số sĩ phu sau khi đi tù về, vẫn tiếp tục hoạt động trong đảng Tân Việt như các cụ Hoàng Văn Khải, Lê Trọng Nhị. Rồi khi Đảng Cộng sản thành lập, mặc dầu không trực tiếp tham gia, nhưng các vị này vẫn là chỗ dựa cho con cháu tiếp tục đi vào con đường cách mạng mới. Việc cụ Hoàng Văn Khải đặt tên cho các cháu nội theo khẩu hiệu “Tô Nga Đại Đồng - Việc Nam Xích Hoá” là một việc làm có ý nghĩa, chứng tỏ tư tưởng cách mạng vô sản không hề xa lạ đối với lớp nhà nho xưa.
Trước thủ đoạn tinh vi và quyền lực của bộ máy thống trị thuộc địa, các sĩ phu nho học đầu thế kỷ XX đã không thực hiện được hoài bão lịch sử của mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhưng không phải vì vậy mà họ chịu bó tay đầu hàng. Bằng việc tham gia vào công cuộc cải cách hương thôn, chấn hưng phong tục của một số sĩ phu Thanh Hoá, sau khi ra khỏi nhà tù thực dân, các nhà nho tiền bối đã truyền lại cho các lớp con cháu tinh thần yêu nước của mình, bàn giao lại trách nhiệm giải phóng cho các thế hệ sau này. Đó là niềm tự hào ngày nay chúng ta đang tiếp tục phát huy.








