Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 27/11/2008 16:07 (GMT+7)

Trà - biểu tượng của văn hóa giao tiếp phương Đông

Năm 1998, theo lời mời của Fundacao Oriente (Hội Quỹ phương Đông), GSTS N. Niculin đã sang Lixbon (Bồ Đào Nha) nghiên cứu về sự giao tiếp văn hóa giữa châu Âu với phương Đông, Đông Nam Á, giữa Bồ Đào Nha với Việt Nam (từ thời các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vượt biển sang châu Á). Nhân hai năm ngày ra đi vào cõi vĩnh hằng của N.Ninculin (01/01/2006 – 01/01/2008), chúng tôi xin giới thiệu bài viết này, trích trong công trình đang soạn thảo của ông, như một nén hương tưởng niệm người bạn thân thiết của giới khoa học xã hội Việt Nam .

Một người uyên bác về văn hóa truyền thống Việt Nam- nhà văn Nguyễn Tuân, vào đầu những năm 70, trong lúc chiến tranh ác liệt đã viết rằng: “Một chén trà tuyệt hảo, một cành hoa đào - đủ để thấy hương vị Tết Việt Nam ”. Nhưng trà còn đi xa hơn, vượt qua biên giới Trung Quốc, Việt Nam , Nhật Bản, Triều Tiên.

"Trà - biểu tượng của văn hóa Viễn Đông, được đem sang trồng ở phương Tây" - Turekhiro Saraki, nhà phê bình văn học Nhật Bản đương đại nhận xét trà là sự gặp gỡ giữa Viễn Đông với phương Tây. Trà không chỉ đơn thuần với tư cách là một trong những nhân tố văn hóa độc đáo của cả khu vực, mà còn là biểu tượng. Để sáng tỏ nhận định này, có thể đưa ra nhiều dẫn chứng hùng hồn. Vì thế, dĩ nhiên trong cuốn sách của Philíp Bỉnh, không chỉ nói về sự du nhập từ Trung Quốc vào phương Tây như cam, mà còn cả cây chè và cách uống trà nữa.

Philíp Bỉnh, nhà khai sáng, người có óc thông minh, đã ước mong rằng Tổ quốc Việt Nam của ông sẽ noi theo nền sản xuất hữu hiệu, những thành quả văn hóa, những thói quen tập quán của văn hóa châu Âu (ông thường gọi là phương Tây). Ông nói về máy in và cối xay gió, về bưu điện và báo chí, về công xưởng và ngói Bồ Đào Nha tuyệt hảo và về nhiều vấn đề khác.

Nhưng có một tập quán châu Âu mà ông không thể nào chấp nhận và tiếp thu, không thể hòa hợp được với nó. Tập quán ấy, theo quan điểm của ông, không thể coi là chuyện nhỏ nhặt được. Đó là tập quán uống trà.

Uống trà thuộc về phong cách các nước Viễn Đông, du nhập vào châu Âu, lúc đầu, chỉ mang ý nghĩa thực dụng. Vào giữa thế kỷ XVII, thời kỳ làm quen với trà ở châu Âu - Alexandre de Rhodes đã viết về trà với sự thán phục như là về một loại thuốc bổ ích cho sức khoẻ: "Trà là một trong những phương tiện, tạo nên sức khoẻ của các dân tộc ấy, đem lại cho họ sức sống đến tận tuổi già". Vị cha cố thực tiễn nói rằng: Trà thể hiện đầy đủ nhất tính năng kỳ diệu của mình, chỉ khi nào nó được đun nóng, còn trà nguội chẳng ra gì cả.

Phương diện khác của việc uống trà, liên quan tới bản chất sâu xa của văn hóa Viễn Đông, không được nhận thức và lĩnh hội đầy đủ ở châu Âu, bởi thế không hòa hợp với bản chất của mối quan hệ với cuộc sống và thiên nhiên của người châu Âu. Ở các nước Viễn Đông và ở Việt Nam , con người và thiên nhiên tạo thành một thể thống nhất, hòa hợp với nhau. Thái độ đối với Trà liên quan tới điều này.

Trong truyền thống Việt Nam , tiếp nối với Trung Quốc, trà chiếm một vị trí đặc biệt.

Ở Việt Nam , sự ham mê trà đã kích thích sự sản xuất các phương tiện khác nhau cho việc pha trà và uống trà. Nhà văn Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) cùng thời với Philíp Bỉnh, trong “ Vũ trung tùy bút” viết về Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ XVIII, có kể: "Trong nước vô sự, các nhà quý tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một cái ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Thường có nhiều người qua chơi hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác tiền hết quan này chục khác để mua chuốc lấy chè ngon".

Có thể nói về văn hóa độc đáo của việc uống trà (nếu như không nói về sự sùng bái): "Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên mua cho được chè ngon - Phạm Đình Hổ nhận xét - thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn để mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tầu buôn để đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực. Song cái thú vị uống chè Tàu có phải ở chỗ đó đâu. Chè Tàu thú vị ở chỗ tính nó sạch sẽ, hương của nó thơm tho".

Rõ ràng rằng, trà tạo nên mối quan hệ, tạo nên đối thoại - đối thoại với người khác, với chiều sâu nội tâm, trò truyện với chính mình. Uống trà liên kết những người đàm đạo trong không gian và thời gian. Trà, đó là sự giao tiếp giữa các nền văn hóa.

Ở Việt Nam hiện nay, đãi khách nhất thiết phải có trà. Họ rót một chút trà vào trong các chén nhỏ bằng sành hay bằng sứ, thoạt đầu tôi cứ ngỡ như búp bê. Phạm Đình Hổ, viết về truyền thống uống Trà, bắt nguồn từ Trung Quốc, thật thú vị: "Từ đời Khang Hi (1668-1723) trở về sau, cách uống chè Tàu mới đổi ra cách pha từng chén nhỏ chứ không hãm từng ấm to nữa, vì cách uống chè ấm phải cốt cho nhỏ và mỏng để khi pha chè mới nổi hương vị".

Tuy nhiên, đó là cách pha trà trong ấm nhỏ hoặc ấm rất to, được ủ nóng trong cái dành bằng bông, lót bên trong một cái giỏ đặc biệt. Ấm trà bằng gốm được tạo nên bởi bàn tay của các nghệ nhân khéo léo thành thạo và nổi tiếng thường có giá cao.

Bộ ấm chén đẹp, lời nói thong thả, lịch thiệp, động tác tao nhã, uống chầm chậm từng ngụm nhỏ, chủ và khách như đang thực hiện một nghi lễ nào đó, tâm hồn thư thái. Người uống trà, dường như đang xa lánh thế giới trần tục, giao cảm với thế giới vĩnh hằng, lãng quên những mối lo âu và xáo trộn, hướng tới những giá trị tuyệt đối. Phạm Đình Hổ viết: "Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu làng thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè Tàu ra thưởng thức thì có thể tính được mộng trần, rửa được lòng tục, ấy người xưa ưa chuộng chè Tàu là vì vậy".

Trà làm khoẻ người, giải cơn khát, nhưng không phải chỉ có thể - nó tạo nên không khí giao tiếp, trong cách uống trà Việt Nam , có chất thẩm mỹ riêng và yếu tố nghi lễ. Vì vậy, sắp xếp vị trí uống trà, điều kiện uống trà là yêu cầu rất đặc biệt. Phạm Đình Hổ viết tiếp: "Còn như nếm chè ở trong đám ruồi nhặng, bày ấm chè ở cửa chợ bụi lầm trong lúc ồn ào đinh óc, vơ vẩn rộn lòng, thì dẫu ấm có đẹp đẽ, chè ngon ngát lừng, ta chẳng biết uống chè như thế thì có thú vị không?".

Như vậy, truyền thống uống trà Việt Nam còn phải tính đến sự hòa hợp với tâm trạng, trạng thái tinh thần ổn định. Ngoài việc uống trà, còn là sự giao tiếp, sự hòa hợp với thiên nhiên. Trong quán ăn giữa chợ, bay lên mùi thơm dễ chịu từ những bát phở gà nóng hổi với sợi phở dài trong suốt được rắc nhiều hạt tiêu với những cọng rau thơm và những cọng hành dài. Người ta gọi đó là quán ăn "bụi". Nhưng để uống trà, lại cần phải tách biệt, tốt hơn hết là giữa thiên nhiên, tránh xa những mối bận bịu, ồn ào. Phạm Đình Hổ kể rằng: "Khi dạy học rảnh, ta thường cùng với người đàn anh trong làng dạo chơi chùa Vân, pha chè uống nước, hoặc trèo lên cái gò ba tầng ở phía tây xóm ấy, rồi múc nước suối để pha chè uống chơi. Trông thấy những cảnh mây nổi hợp tan, chim đồng kêu lượn, cùng lá cỏ cây rơi rụng, hành khách lại qua, ta thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh".

Trà trong quan hệ bạn bè thường đi đôi với rươu. Ở Việt Nam có lối nói: "rượu chè" (rượu sớm trà trưa). Tôi rất ngạc nhiên, khi ở Lixbon, bà chủ căn hộ đứng tuổi người Bồ Đào Nha quan sát tôi uống trà, nói với vẻ pha chút trách móc: "Cha vinho" (trà với rượu). Trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm thấy bầu không khí Việt Nam vút tới: Sự trùng hợp bề ngoài ở đây không hoàn toàn, nhưng cũng gần như hoàn toàn.

Khi nói đến trà, Philíp Bỉnh kể chuyển về cuộc sống trong tu viện và tuyên bố: "Song bây giờ đã biết sự ăn uống theo cách phương Tây". Dường như, những người sống trong tu viện là người nghiện trà.

Philíp Bỉnh thấy gai mắt và kinh ngạc khi thấy người ta pha chè với cà phê, với sữa... còn cái thói uống trà với đường khiến ông khó chịu nhất, như thể điều ấy phá hủy toàn bộ văn hóa uống trà truyền thống của Việt Nam, ý nghĩa độc đáo và không khí của nó.

Thật thú vị, dù chỉ so sánh sơ lược mối liện hệ của trà trong văn hóa truyền thống của bốn nước vùng Viễn Đông. Ở Triều Tiên, từ trên các dãy núi, khắp mọi nơi nước mạch nguồn mát lạnh, ngon tuyệt vời chảy ra, nhưng đáng ngạc nhiên là thói quen uống trà không được phổ biến rộng rãi. Ở Trung Quốc, quê hương của chè, tập quán này vượt ra khỏi sự uống trà thông thường, mang tính chất như nguyên liệu thuốc, sau đó là trong các nghi lễ Thiền định của Phật giáo, gần gũi với Thiền của Phật giáo Việt: các tu sĩ uống cho tỉnh táo, không ngủ gật khi nhập định. Trong văn hóa, các nghi lễ được coi trọng. Mối liên hệ của việc uống trà này với các nghi lễ được duy trì một cách tiềm ẩn.

Ở Việt Nam , khi dâng chén trà cho khách, bạn thể hiện sự kính trọng với họ. Nghĩa là khi uống trà, là đặt những tiền đề biến nó thành cái gì đó có ý nghĩa lớn lao hơn, chứ không đơn giản là sự giải khát thông thường. Chính vì thể, ở miền Nam Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, dưới chế độ Sài Gòn trong làn sóng hình thành, phát triển cải cách tôn giáo khác nhau (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên), xuất hiện học thuyết Đạo Trà - tôn giáo đặt niềm tin vào trà - nhưng sau đó chẳng bao lâu, trở thành chuyện buồn cười. Quan hệ đặc sắc của trà có gốc rễ trong đời sống sinh hoạt và văn hóa của bốn nước Viễn Đông. Dĩ nhiên, truyền thống Việt Nam không phải được tạo ra bởi các nghi lễ phức tạp, truyền thống ấy có nét đặc trưng khác hẳn với nghi lễ uống trà Nhật Bản (Trà uống trong nghi lễ này, thực ra không được ngon lắm). Nhưng ở Việt Nam ý nghĩa của trà trong văn hóa thực to lớn.

Những điều nói trên phần nào đó giải thích vì sao Philíp Bỉnh, con người cẩn thận, hoàn toàn không chấp nhận được kiểu uống trà của châu Âu.

"Mọi năm, đều có nhiều chiếc tàu buôn chè nước Đại Minh (Trung Quốc) về, mà bao nhiêu cũng hết, vì người ta uống lắm". Các thương nhân Bồ Đào Nha không bao giờ bị lỗ vốn khi buôn chè - bởi đó là thứ nhu cầu hàng ngày, nhu cầu thường xuyên ngày càng tăng. Philíp Bỉnh, con người ham tìm hiểu, đối với điều này đã làm phép tính kinh tế thú vị: "Chè bậc thứ nhất thì hai quan sáu tiền bốn mươi đồng, chè bậc thứ hai thì hai quan, bậc thứ ba thì một quan năm tiền một cân; song cân thì nhẹ, vì chè nước khác (Trung Quốc) thì mỗi một hòm là 50 cân, mà phương Tây bán là 80 cân". Philíp Bỉnh gọi đơn vị đo trọng lượng Trung Quốc "lượng" (gần 600 gam) là "cân"; sự khác biệt và lợi nhuận mà các thương gia Bồ Đào Nha được hưởng là ở đó.

Nhưng tôi muốn hướng sự chú ý tới vấn đề khác. Philíp Bỉnh không hài lòng với người sử dụng trà. Ở đây, trong sách của ông cất lên sự bực bội rất rõ: "Chè buôn về phương Tây là chè tốt song tốt cũng như xấu vì bỏ đường vào thì thấy mùi ngọt mạnh hơn mùi chè. Cho nên một khi tôi đi thăm viếng nhà ai được người ta mời uống chè thì hoặc im lặng mà uống như người ta, hoặc xin họ đừng bỏ đường và giải thích rằng: “Nước An Nam chúng tôi cũng như nước Đại Minh khi uống chè thì chẳng bỏ đường vào để cho biết mùi chè".

Các vị chủ nhà chưa quen với cách uống trà theo văn hóa phương Đông, ngạc nhiên liếc nhìn nhau, nhưng dĩ nhiên cũng đáp lại nguyện vọng của khách Việt Nam, mà người đó cũng hết lòng cố gắng tìm hiểu họ: "Phương Tây khi sang buôn phương Đông, mua chè về mà uống, thấy vị đắng liền bỏ đường vào cho ngọt nên sinh ra thói ấy, về sau lại thêm sữa bò và cà phê". Ông cũng còn cắt nghĩa rằng, khi ở Việt Nam chưa từng thấy kỹ thuật khuấy tan đường trong nước trà bằng thìa bạc nhỏ.

Dĩ nhiên, bài học này các vị chủ nhà thường nhanh chóng lĩnh hội: "Cho nên, từ ấy về sau, mỗi khi tôi đến thăm thì nhà ấy chẳng bỏ đường vào chén trà tôi uống, vì họ đã biết ý".

Sự quen biết và liên hệ của Philíp Bỉnh với những người Bồ Đào Nha trở thành thường xuyên, bền chặt, trong các gia đình, người ta biết và chú ý đến tập quán và khẩu vị của khách Việt Nam, người đã thể hiện ở đây lòng trung thành với truyền thống Việt Nam. Nhà bác học, nhà thơ Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) người cùng thời với ông, một trong những phụ tá gần gũi của Nguyễn Huệ, lãnh tụ phong trào Tây Sơn cũng đã viết về điều này. Trong quyển sách của mình, Philíp Bỉnh cũng nhắc đến một trong những sự kiện về Ngô Thì Nhậm. Và không phải ngẫu nhiên, nhân vật này trở thành con người rất nổi tiếng trong lịch sử văn hóa Việt Nam thời đó.

Ngô Thì Nhậm trong tác phẩm Cúc hoa thi trân” của mình đã đặt trà vào hàng những khoái cảm, lạc thú thanh cao - ngang với thú đọc thơ, thưởng thức âm nhạc tuyệt diệu và hoa. "Ta thường nghĩ người thường có bốn điều không thể biết đó là: Chơi hoa Châu Lan không biết thơm. Uống Chè Long Tỉnh không biết ngon. Nghe khúc điệu cung không biết vui. Đọc thơ “Cầm sắt không biết hay”. Bởi vì bốn cái ấy thanh cao quá, không thích hợp với người thường vậy.

Tuy vậy, đó là nói chưa biết mà thôi. Còn khi đã biết rồi, thì ở dưới trời này, những cái gọi là hoa, là chè, là khúc, là thơ, có cái gì lại cao diệu hơn được những cái ấy".

Khác hẳn với Ngô Thì Nhậm, Philíp Bỉnh khao khát hiểu được người châu Âu (cụ thể là người Bồ Đào Nha) và sự khác nhau giữa truyền thống của họ với Việt Nam . Điều đó, thoạt tiên là thực tại thường ngày (uống trà với đường hoặc không đường) bắt buộc phải suy nghĩ; Philíp Bỉnh nhìn nhận văn hóa truyền thống Việt Nam một cách chọn lọc, kỹ càng, khao khát giữ gìn những giá trị của nó mà thời đó ngay những người châu Âu có thiện ý cũng không hiểu được giá trị ấy trong sức mạnh tính cách và sự đặc sắc truyền thống văn hóa của mình.

Nói về trà, về biểu tượng của văn hóa Viễn Đông, Philíp Bỉnh giữ vững niềm tin của mình: Ông tư duy trên quy mô thế giới. Quả thực, ông đề cập tới không chỉ sự phổ biến trà của người châu Âu, mà còn thông tin về các tổ chức của các đồn điền trồng chè ở Braxin, ở Tân Thế giới. "Bây giờ vua Bồ Đào Nha lại lấy giống chè nước Đại Minh đem về để cho trồng trong một vườn Dòng Đức Chúa Zêsu ở Thế giới mới".

Philíp Bỉnh đã ghi lại sự phổ biến trà - biểu tượng của văn hóa Viễn Đông – trên toàn thế giới.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Tạo động lực phát triển, đưa ngành công nghệ sinh học Việt Nam lên tầm cao mới
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Công nghệ sinh học 2026, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/8 tại Đại học Đông Á, Đà Nẵng, không chỉ là sự kiện học thuật mà còn là một dấu mốc chiến lược, điểm hội tụ trí tuệ nhằm định hình lại quỹ đạo phát triển của ngành công nghệ sinh học Việt Nam...
Nghệ An: Khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng
Sáng 7/8, Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn và trường Cao đẳng công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tổ chức khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh năm 2026.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long
Ngày 7/8, tại Vĩnh Long, GS.TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là Đại hội đầu tiên sau hợp nhất Liên hiệp Hội ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đội ngũ trí thức KH&CN trên địa bàn tỉnh.
Thống nhất quy định để doanh nghiệp không phải khai báo nhiều lần
Sáng 7/8, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, TP. Đà Nẵng) thảo luận về: dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.
Nghệ An: Trao 162 giải thưởng Olympic Hóa học 19-5
Cuộc thi đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ về sự hấp dẫn của Hóa học và lan tỏa tình yêu của Hóa học đương đại đến mọi người. Thành công của cuộc thi là lời khẳng định về vai trò của Hóa học trong đời sống và tương lai của đất nước.
Xây dựng hành lang pháp lý phát triển đô thị Việt Nam
Chuyển mạnh từ tư duy quản lý đô thị sang kiến tạo phát triển đô thị là một trong những nội dung được nhiều chuyên gia góp ý tại Hội thảo “Đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật Phát triển đô thị” do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp cùng Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam và Tổng Hội Xây dựng Việt Nam tổ chức sáng 5/8, tại Hà Nội.