Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 15/06/2006 22:34 (GMT+7)

Tình hình sản xuất khoai tây tại Lâm Đồng

I. Các giống khoai tây và phẩm cấp giống

1. Giống khoai tây chế biến và giống khoai tây ăn tươi

* Giống khoai tây ăn tươi dùng để nấu nướng (chủ yếu tiêu thụ nội địa);

* Giống khoai tây chế biến dùng để ăn tươi và chế biến thành một số sản phẩm như chips (khoai tây chiên giòn đóng gói); bột dinh dưỡng cho trẻ em; sấy khô; thức ăn chăn nuôi. Nguồn tiêu thụ của giống khoai tây này là cả nội địa và xuất khẩu.

Hiện nay trên thế giới, sản lượng khoai tây tiêu thụ chủ yếu là giống khoai tây chế biến (3/4), 1/4 còn lại là giống khoai tây ăn tươi.

2. Giống khoai tây Đà Lạt - Lâm Đồng

* 07 (Utatlan) - Giống ăn tươi

Nguồn gốc: CIP

Đặc điểm: da hồng, ruột vàng, mắt cạn, củ tròn;

Khả năng kháng bệnh Phythothera, mốc sương ở mức trung bình, độ đồng đều cao;

Thời gian sinh trưởng: 3,5-4 tháng

Năng suất: 30-35 tấn/ha

Cấy mô: 0,3-0,5 kg/cây cấy mô, chủ yếu là lấy giống G1.

0,8-1,0 kg/1 củ giống G1

1,0-1,2 kg/1 củ giống G2

1-1,3 kg/1 củ G3 - bỏ giống G4

Nông dân Đà Lạt trồng giống 07 chiếm 80%.

* 06 Giống ăn tươi

Nguồn gốc: CIP

Đặc điểm: Da vàng, ruột vàng, củ tròn, mắt cạn

Khả năng kháng bệnh mốc sương: kém

Thời gian sinh trưởng: 3 tháng

Năng suất: 15-20 tấn/ha

0,200-0,300 g/1 cây mô

0,5-0,6 kg/1 củ giống G1

0,7-0,9 kg/ củ giống G2

0,8-1 kg/1 củ giống G3, bỏ giống G4.

Nông dân Đà Lạt trồng giống 06 chiếm 15%.

* PO3 - Giống chế biến

Nguồn gốc: CIP

Đặc điểm: da vàng, ruột vàng, củ tròn hoặc oval, mắt cạn có phớt hồng. Củ rất đồng đều (thuận tiện cho máy móc chế biến)

Thời gian sinh trưởng: 2,5-3 tháng

Khả năng kháng bệnh mốc sương: tốt

Năng suất: 40-45 tấn/ha

0,5-0,6 kg/1 cây mô

1,2-1,8 kg/1 củ giống G1

1,5-2,1 kg/1 củ giống G2

Nông dân Đà Lạt trồng giống PO3 chiếm 20%.

Đây là giống mới do Trung tâm nghiên cứu khoai tây, rau và hoa khảo nghiệm liên tục 3 năm qua tại 2 vùng Vạn Thành và Xuân Thọ. Giống khoai PO3 rất có triển vọng cho xuất khẩu, là giống khoai tây chế biến duy nhất hiện nay của Đà Lạt.

Tuy nhiên, theo tập quán suy nghĩ của người dân Đà Lạt. Từ lâu, Đà Lạt nổi tiếng là vùng rau hoa cao cấp của nước Việt Nam , do đó khoai tây Đà Lạt là khoai tây ngon. Và vô tình, màu hồng đã trở thành “thương hiệu” của khoai tây Đà Lạt.

Còn khoai tây da vàng lại được hiểu là khoai tây Trung Quốc (có sử dụng hoá chất để bảo quản nên rất độc) và là khoai của miền Bắc nên không ngon dù cũng được trồng tại Đà Lạt – Lâm Đồng.

Vì vậy, khoai tây da vàng (dù là giống gì) thì giá vẫn thấp hơn và khó bán hơn khoai tây da hồng. Chính vì lí do này, nhiều người buôn khoai đã “nhuộm đỏ” các giống khoai tây da vàng bằng đất.

3. Giống khoai tây miền Bắc

Từ năm 2000, dự án Khoai tây Việt - Đức đã cung cấp những giống khoai tây chế biến nổi tiếng thế giới cho miền Bắc.

* Mariella (Việt Đức 2): giống chế biến; đã được trồng tại Đà Lạt cách đây 20 năm (khoai tây Đông Đức). Hiện nay nông dân Đà Lạt đã bỏ giống này.

Nguồn gốc: Đức

Đặc điểm: da vàng, ruột vàng nhạt, củ oval, mắt cạn.

Thời gian sinh trưởng: 2,5-3 tháng

Khả năng chịu bệnh mốc sương: trung bình

Năng suất cao, độ đồng đều cao.

* Diamant

Nguồn gốc: Hà Lan

Đặc điểm: da vàng, có đốm nhỏ màu nâu, ruột vàng, mắt cạn

Thời gian sinh trưởng: 2,5 tháng

Khả năng chịu bệnh mốc sương: kém

Thoái hoá nhanh (nên chỉ đến G2 là bỏ giống)

Độ đồng đều cao.

* KT3

Củ tròn, vỏ vàng nhạt, ruột vàng, mắt sâu màu hồng, độ đồng đều cao.

Thời gian sinh trưởng 2,5-3 tháng

Khả năng chịu bệnh mốc sương: trung bình

Thoái hoá: chậm

* Solara (của Đức) và B4 (của Trung Quốc) : hai giống này mới nhập vào Việt Nam và hiện nay chưa có khảo nghiệm.

Nhìn chung 5 giống khoai tây chế biến trên tuy nổi tiếng thế giới (với phẩm chất ngon, năng suất cao) nhưng khả năng chống chịu bệnh mốc sương không được cao nên chủ yếu chỉ trồng vào vụ Đông Xuân, và phù hợp với thời vụ nghiêm ngặt của miền Bắc (xuống giống từ tháng 10-12).

Chúng ta có thể thấy rõ, Lâm Đồng và miền Bắc có hai hệ thống giống hoàn toàn khác nhau. Tại Lâm Đồng, việc cung cấp giống sạch bệnh cho địa phương được làm hoàn toàn bằng phương pháp cấy mô; còn tại miền Bắc, giống lại được nhập từ các nước Trung Quốc, Hà Lan, Đức và CIP. Hiện nay, theo chương trình ủng hộ của Đức, miền Bắc đang sản xuất và trồng củ bi ống nghiệm để có giống sạch bệnh cung cấp cho nông dân đồng bằng Bắc bộ.

4. Phẩm cấp giống

- Siêu nguyên chủng (Microtuber): củ bi được sản xuất trong ống nghiệm và phải qua test Elisa;

- Giống nguyên chủng (Minituber): củ bi được sản xuất trong nhà nylon từ củ bi ống nghiệm hay cây ống nghiệm.

Cả hai giống trên đều được các phòng thí nghiệm thực hiện.

- Giống cây mô (Đà Lạt): sản xuất từ vườn ươm;

- Giống xác nhận (G1 - G2 - G3): nông dân.

II. Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai tây tại Lâm Đồng

* Diện tích trồng khoai tây tại Lâm Đồng hiện nay khoảng 100-150ha/năm và được trồng theo phương thức luân canh.

Do có khí hậu và thiên nhiên thích hợp cộng với trình độ kỹ thuật tương đối cao và ứng dụng nhanh trong sản xuất nên công nghệ sinh học ở Lâm Đồng - Đà Lạt đã phát triển rất nhanh trên nhiều loại cây trồng (hoa, cây dược liệu, dâu tây).

Riêng khoai tây đã được ứng ụng trên 25 năm nay, do đó người nông dân đã làm quen với cây cấy mô từ rất lâu. Và hiện nay, do áp dụng biện pháp thâm canh, từ cây mô đã sản xuất được củ thương phẩm chứ không chỉ sản xuất được củ giống như trước kia. Kỹ thuật này đã giúp cho nông dân:

- Chủ động được giống cây trồng.

- Không cần để giống, do đó giảm chi phí và hao hụt trong quá trình bảo quản giống trong kho.

* Hiện nay, hoạt động của các phòng nuôi cấy mô của nhà nước và tư nhân không đủ cung cấp cho thị trường; phẩm chất cây giống không được quản lý và kiểm tra; sản xuất không có định hướng, tràn lan.

* Theo tính chủ quan, người nông dân Đà Lạt chỉ sản xuất giống khoai hồng (giống khoai ăn tươi), do đó thị trường tiêu thụ chủ yếu là nội địa. Đồng thời, khoai tây tại Đà Lạt được trồng rải đều các tháng trong năm, sản lượng khoai lại không cao vào mùa mưa. Giá khoai tây vụ hè thu trên thị trường cao (gấp 1,5-2 lần so với gạo).

III. So sánh tiềm năng sản xuất khoai tây giữa Lâm Đồng và miền Bắc

Tại miền Bắc, khoai tây được trồng trong các tháng 10, 11, 12, cho thu hoạc vào tháng 1, 2, 3.

* Diện tích trồng: 250.000-350.000 ha/năm.

Khoai tây miền Bắc được sản xuất theo thời vụ (Đông Xuân) do đó cần 1 lượng giống rất lớn (từ 300-500 tấn/năm).

* Thời gian giữ giống thông thường là 9 tháng, do đó không đảm bảo yêu cầu. Giống đạt yêu cầu phải được bảo quản trong kho lạnh với thời gian là 6 tháng. Nhưng giá giống lại quá cao 10.000-12.000 đ/kg.

Do đó, giống khoai tây ở miền Bắc chủ yếu được nhập nội từ Trung Quốc và các nước khác với giá từ 3.000-5.000 đ/kg (giống G1). Sau đó được sản xuất đồng loạt với một sản lượng lớn giống khoai tây chế biến nên giá rẻ (chỉ bằng 1 kg gạo hoặc thấp hơn). Thị trường tiêu thụ chủ yếu là xuất khẩu (50-70%), ăn tươi nội địa chiếm 20%.

Hiện nay, miền Bắc có khoảng 18 phòng nuôi cấy mô của nhà nước và các trường đại học nhưng chỉ có 2 phòng hoạt động cầm chừng (do Dự án khoai tây Việt Đức tài trợ kinh phí): 1 phòng ở Ba Vì, 1 phòng tại trường Đại học Nông nghiệp 1.

Chi phí cho các phòng thí nghiệm này quá lớn nên giá thành sản phẩm tương đối cao. Ví dụ: giá khoai tây Microtuber ở Đà Lạt là 1.000 đ/củ, ở miền Bắc phải lên đến 1.200-1.400 đ/củ. Nguyên nhân chính là do thiên nhiên nơi đây không được thuận lợi, tiêu thụ điện tương đối nhiều; bên cạnh đó những người làm phòng thí nghiệm chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này cộng với việc người nông dân chưa tiếp cận được với kỹ thuật mới.

Tại Đà Lạt, khoai tây có thể được trồng quanh năm. Vào các tháng mùa mưa từ thứng 5-8, việc lấy giống khoai tây sẽ được trồng trong nhà nylon để đảm bảo yêu cầu. Lâm Đồng có rất nhiều tiềm năng (người dân đã có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, khí hậu thiên nhiên thích hợp,…) để trở thành vùng chuyên canh giống, cung cấp giống sạch cho miền Bắc. Tuy nhiên, hiện nay Lâm Đồng chưa có phòng test virus để phục vụ cho việc sản xuất giống sạch bệnh. Nếu Lâm Đồng được trang bị thêm phòng test virus thì sẽ có khả năng chúng ta tự cung cấp giống cho cả miền Bắc, không phải nhập khẩu giống từ nước ngoài nữa.

IV. Một số kiến nghị

- Để phát triển tiềm năng của mình, tỉnh Lâm Đồng nên trang bị 1 phòng test virus thuộc sự quản lý của nhà nước để hỗ trợ cho các phòng nuôi cấy mô. Để nhân nhanh bất cứ giống cây trồng nào bằng phương pháp cấy mô thì việc test virus trước khi nhân cấy là đặc biệt quan trọng.

- Tiếp tục sản xuất giống khoai tây ăn tươi 07 của Đà Lạt vì nó đã nổi tiếng, được thị trường tiêu thụ ưa chuộng.

- Tiến hành khảo nghiệm các giống khoai tây chế biến của miền Bắc như Diamant, Mariella, Solara, B4 với giống khoai tây chế biến PO3 của Đà Lạt. Từ đó thiết lập 1 hệ thống giống đồng nhất của cả 2 miền, tiến tới việc đưa Đà Lạt trở thành 1 vùng chuyên canh giống khoai tây nổi tiếng của Việt Nam.

- Xúc tiến việc mở rộng thị trường tiêu thụ của Lâm Đồng, không chỉ tiêu thụ nội địa mà cả xuất khẩu.

Vừa qua, TS. Cay O. Mentz (thuộc Chương trình khoai tây Việt Đức) đã đến thăm Lâm Đồng. Ông rất tán đồng với ý kiến đưa Lâm Đồng trở thành vùng sản xuất chuyên canh giống khoai tây sạch bệnh. Ông đã hứa sẽ giúp Lâm Đồng trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật làm việc trong phòng test virus. Ông cũng đã tặng cho tỉnh Lâm Đồng 4 giống khoai tây chế biến nổi tiếng của thế giới: Solara (microtuber, ống nghiệm); Diamant (ống nghiệm); Mariella (ống nghiệm); B4 (minituber), cả 4 giống đã được qua test Elisa. Đây sẽ là nguồn gen quý cho ngân hàng giống khoai tây Lâm Đồng.

Nguồn: Thông tin KH&CN, số 3, 2005

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.