Tìm hiểu khu chạm khắc đá cổ Sapa
Ngày 21 - 11 - 1997, nhà nước ta đã quyết định lựa chọn nơi đây là “Khu di tích lịch sử quốc gia” có quy chế gìn giữ lâu dài cho hậu thế và lập hồ sơ khoa học trình UNESCO, đề nghị xem xét công nhận là di sản thế giới. Chỉ đáng tiếc là cho đến nay, mấy chục năm dài dặc đã đi qua, mà vẫn chưa có luận văn nghiên cứu khoa học đầy đủ nào về khu di tích được công bố. Các học giả nước ta còn khá mơ hồ về các hình khắc phong phú, đa đạng, độc đáo ở đây, thậm chí bình luận về ý nghĩa, tầm quan trọng và phương thức đánh giá niên đại còn nhiều mơ hồ. Như vậy thì việc UNESCO chưa có cơ sở để xem xét về khu di tích cũng là điều dễ hiểu.
Tôi không phải là nhà khảo cổ chuyên nghiệp, nhưng đã có duyên nợ nhiều năm với Sa Pa nên năm 1998, nhân dịp có cuộc triển lãm lớn dài ngày về “Khu chạm khắc đá cổ ở Sa Pa” ở Hà Nội, tôi và người bạn già cao tuổi ở Câu lạc bộ Kinh Dịch, đến xem rất thích thú, nhiều lần. Sau đó lại đem máy ảnh đến chụp lại toàn bộ các tấm ảnh và mô hình sa bàn được trưng bày, đem về nghiên cứu.
Chúng tôi hy vọng, khối lượng khá lớn các hình khắc mang tính trí tuệ siêu việt, bao quát nhiều mặt đang có trong “Sách đá cổ Sapa” sẽ giúp giới sử học của chúng ta có thêm các cứ liệu về nền văn minh lúa nước, về thiên văn, địa lý, Kinh Dịch, chữ nho cổ tự v.v… Dưới đây chỉ xin trích ra một số tư liệu quan trọng nhất để chúng ta cùng trao đổi.
Chứng tích tiêu biểu của nền văn minh lúa nước
![]() |
Chiếc bừa gỗ khi xưa, vì chưa có sắt nên răng phải làm bằng các loại gỗ vừa rắn vừa bền như gỗ nghiến. Ở Sapa trong đợt được đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Lào Cai Tráng A Páo mời lên khảo sát tại chỗ (2000), tôi đã cùng các cán bộ văn hoá ở địa phương vào ba nhà người H’Mông để quan sát thì cả ba nhà đều có chiếc bừa răng gỗ nghiến (địa phương gọi là gỗ lăng), hai chiếc 7 răng, tay cầm để thẳng, chiếc thứ 3 có 8 răng, hay cầm hơi uốn cong giống hình khắc vào đá. Có cán bộ hỏi: Hay đây là sáng tạo của người dân tộc ở địa phương? Tôi nghĩ không phải, chiếc bừa được khắc vào đá núi là chiếc bừa 9 răng. Con số 9 là con số “lão dương” (số lẻ) lớn nhất, theo lý thuyết Âm Dương - Ngũ Hành. Người xưa xem là “con số tốt lành, đem lại thành quả mỹ mãn cho con người”.Nó được giữ vững từ thuở còn dùng răng gỗ đến lúc dùng răng sắt, vẫn không thay đổi. Người H’Mông mới nhập cư vào nước ta khoảng 300 năm, lại mới biết làm ruộng nước bậc thang sau này. Họ làm răng bừa tuỳ tiện là do chưa nắm được đầy đủ triết lý Kinh Dịch còn quá cao so với họ.
Với cấu tạo hợp lý của chiếc bừa gỗ, con người có thể nâng lên hạ xuống, thay đổi mặt nghiêng và độ nông sâu của răng bừa cho phù hợp với tình hình mặt ruộng, có nhiều cỏ hay ít cỏ, đất nặng hay nhẹ, chỗ nào phải nhận cỏ cho ngấu thành nguồn phân tại chỗ bón lúa, chỗ nào cần san ruộng cho bằng trước khi cắm cây lúa xuống hoặc gieo mạ…
Hai mặt thớt cối xay lúa: Ở Sapa, người khắc đá không diễn tả cối xay lúa theo đồ hoạ, hai thớt đặt chồng lên nhau, mà chọn hai mặt thớt cối xay tách rời nhau, chia múi theo nguyên tắc “Tham thiên lưỡng địa” của Kinh Dịch, thớt trên 9 múi, thớt dưới 8 múi (chênh nhau một múi) để các hàng răng cối và rãnh cối không bao giờ trùng nhau. Có thế thớt cối trên mới quay được, quay đều để các hạt thóc từ thớt trên chảy dần xuống, nằm giữa hai rãnh, được chà sát cho sạch trấu mà hạt gạo vẫn giữ còn nguyên, ít gẫy nát. Bí quyết này, trong nghề đóng cối xay cổ truyền, không bao giờ phó cả dạy cho phó nhỏ, cứ để họ làm mãi ai tinh ý thì dần dần sẽ tự học, tự biết.
Cối xay lúa là sự vận dụng tài tình lý thuyết Dịch học vào thực tiễn cuộc sống. Phải đạt đến trình độ phát triển cao, thuần thục trong nền nông nghiệp làm lúa nước, thóc lúa làm ra phải đã dư thừa, thì con người mới nghĩ ra cối xay, cối giã để biến nó thành hạt gạo thương phẩm được. Việc sáng tạo cối xay quay được trong thời cổ là không dễ.
Tri thức về thiên văn và Dịch học thời cổ đại
![]() |
Mô hình vũ trụ (H.3) được cấu trúc theo luận thuyết Tam tài: Thiên, Địa, Nhân của Kinh Dịch và triết học phương Đông. Con người được coi là Tiểu vũ trụ, sánh ngang Trời - Đất, giữ vai trò cầu nối giữa Trời - Đất với Con người. Trong hình khắc, hình tượng nữ trên, nam dưới theo thuyết Âm - Dương ngũ hành. Bộ phận sinh dục của hai người đều phóng to hơn mức bình thường, coi việc sinh sản để bảo tồn nòi giống là hệ trọng không thể xem nhẹ. Ngay phía trên đầu người đàn ông đứng hơi khom, còn được khắc đậm quẻ Bác(Sơn Địa Bác) Cấn/Khôn với một hào Dương(nam) mà quản đến 5 hào âm(nữ). Phải chăng đây là lời răn đe, cảnh báo rằng: nguy cơ đang cận kề, đừng quá ham mê sắc dục mà mang lụy! Ý thức nhân bảo thật cao quý.
Cạnh quẻ Bác, có một hình vuôngsát bên hình tròncủa quả Đất cũng đáng làm ta chú ý vì ngoài lời chúc phúc “Mẹ tròn con vuông” quen thuộc, còn là lời dặn dò tha thiết: phải từ hình tượng Vuông - Trònđược khắc vào đá núi và hình tượng cặp bánh trưng vuông, cặp bánh giầy tròn, dâng lên bàn thờ tổ tiên trong Tết Nguyên đán hàng năm mà có nhận thức đúng về các khái niệm cơ bản nhất trong Kinh Dịch. Người thời cổ dùng Hình tròncó tượng vào thai xuôi ngược bên trong,, đặt giữa các quẻ đơn Bát quái để chỉ Thái cựclà khối khí bản nguyên của Vũ trụ. Tính của Thái cực là viên mãn (tròn đầy) và chí tịnh (tinh khiết). Cũng chính vì vốn tròn đầy, tinh khiết nên Thái cực tự nó luôn luôn chuyển động không ngừng. Từ sự chuyển động này mà có sự phân chia thành Âm - Dương. Khí nặng thuộc Âm, tụ xuống bên dưới thành đất, có giới hạn nên tượng của nó là Hình vuông. Khí nhẹ, tinh khiết thuộc Dương bốc lên cao thành Trời, dãn nở không giới hạn nên tượng của nó vẫn giữ Hình tròn giống như Thái cực. Việc dùng hình tượng vuông tròn là để phân biệt đặc tính có giới hạn và không giới hạncủa Âm - Dương.
Trên đây, chúng ta nói nhiều đến các tri thức. Dịch học chứa đựng trong hình khắc, còn về mặt tri thức Thiên văn học thì chỉ riêng việc khắc hoạ cả Mặt trời, Trái đất, Mặt trăngđều là các khối tròn đang quay; Mặt trăng nhỏ hơn Trái đất, là vệ tinh quay vòng quanh Trái đất, đã cho thấy trình độ hiểu biết về các thiên thể quen thuộc gắn bó với cuộc sống và sự thành bại của việc thâm canh lúa nước của người xưa.
![]() |
Quả đất ở đây, đường xoáy ốc từ tâm ra ngoài vẫn giữ hướng từ Đông qua Tây như ở hình (H.3) song nhánh cây ở đường sinh quyển ngoài cùng thì bỏ đi, không cần thiết. Mặt trăng có thể khắc hoạ dưới dạng lưỡi liềm cho dễ nhận, song chủ tâm của tác giả lại muốn diễn tả nó hình tròn, cũng đang quaymà không cần đến đường xoáy ốc từ tâm ra như ở Trái đất. Giải pháp được chọn vừa thông minh lại vừa trí tuệ là đặt vị trí của vệ tinh này ở đúng hướng Tây Nam là hướng trăng lên vào các ngày giữa tháng. Thời gian này chính là lúc “trăng tròn”, toả ánh sáng mát dịu xuống mặt đất chúng ta. Các dải Ngân hà được mô tả bằng các dải song song hình chữ V, cũng ở phía Tây nhưng xa mặt đất hơn mặt trăng.
Các mô hình trên đây là sự cô đúc tài tình những hiểu biết về thiên văn học và Dịch học đã đạt đến trình độ tiêu biểu cho nền văn minh lúa nước thời cổ đại.
Nguồn: Xưa và Nay, số 217, tháng 8 – 2004











