Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 26/01/2006 23:56 (GMT+7)

Tìm hiểu khu chạm khắc đá cổ Sapa

Ngày 21 - 11 - 1997, nhà nước ta đã quyết định lựa chọn nơi đây là “Khu di tích lịch sử quốc gia” có quy chế gìn giữ lâu dài cho hậu thế và lập hồ sơ khoa học trình UNESCO, đề nghị xem xét công nhận là di sản thế giới. Chỉ đáng tiếc là cho đến nay, mấy chục năm dài dặc đã đi qua, mà vẫn chưa có luận văn nghiên cứu khoa học đầy đủ nào về khu di tích được công bố. Các học giả nước ta còn khá mơ hồ về các hình khắc phong phú, đa đạng, độc đáo ở đây, thậm chí bình luận về ý nghĩa, tầm quan trọng và phương thức đánh giá niên đại còn nhiều mơ hồ. Như vậy thì việc UNESCO chưa có cơ sở để xem xét về khu di tích cũng là điều dễ hiểu.

Tôi không phải là nhà khảo cổ chuyên nghiệp, nhưng đã có duyên nợ nhiều năm với Sa Pa nên năm 1998, nhân dịp có cuộc triển lãm lớn dài ngày về “Khu chạm khắc đá cổ ở Sa Pa” ở Hà Nội, tôi và người bạn già cao tuổi ở Câu lạc bộ Kinh Dịch, đến xem rất thích thú, nhiều lần. Sau đó lại đem máy ảnh đến chụp lại toàn bộ các tấm ảnh và mô hình sa bàn được trưng bày, đem về nghiên cứu.

Chúng tôi hy vọng, khối lượng khá lớn các hình khắc mang tính trí tuệ siêu việt, bao quát nhiều mặt đang có trong “Sách đá cổ Sapa” sẽ giúp giới sử học của chúng ta có thêm các cứ liệu về nền văn minh lúa nước, về thiên văn, địa lý, Kinh Dịch, chữ nho cổ tự v.v… Dưới đây chỉ xin trích ra một số tư liệu quan trọng nhất để chúng ta cùng trao đổi.

Chứng tích tiêu biểu của nền văn minh lúa nước

Chiếc bừa gỗ 9 răng: công cụ làm lúa nước được trưng bày ở phòng triển lãm là chiếc bừa cổ truyền bằng gỗ, 9 răng, ai nhìn cũng thấy ngay (H. 1), song ảnh chụp lại ghi là “Nhà sàn Đông Sơn”.Tại sao người xưa lại khắc chiếc bừa gỗ vào núi đá chứ không phải là chiếc càyhay lưỡi cày con bướmĐông Sơn…? Lý do đơn giản vì đây mới là sáng tạo kỹ thuật độc đáochỉ ở quê hương của nền văn minh lúa nước ở Đông Nam Ámới có. Đó là sáng tạo do chính vị thánh tổ của nghề nông làm lúa nước chế tạo ra từ thuở bình minh của văn minh nông nghiệp. Các sách Kinh Dịch đều ghi: Viêm đế Thần Nông (3320 - 3080 tr. CN) đã từhình tượng quẻ Ích mà đẽo gỗ, uốn gỗ tạo ra cày bừa, dạy dân sử dụng để làm ra hạt thóc nuôi sống cư dân thời thái cổ. Người được cư dân bản địa tôn vinh là ĐếThầnlà vì vậy.

Chiếc bừa gỗ khi xưa, vì chưa có sắt nên răng phải làm bằng các loại gỗ vừa rắn vừa bền như gỗ nghiến. Ở Sapa trong đợt được đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Lào Cai Tráng A Páo mời lên khảo sát tại chỗ (2000), tôi đã cùng các cán bộ văn hoá ở địa phương vào ba nhà người H’Mông để quan sát thì cả ba nhà đều có chiếc bừa răng gỗ nghiến (địa phương gọi là gỗ lăng), hai chiếc 7 răng, tay cầm để thẳng, chiếc thứ 3 có 8 răng, hay cầm hơi uốn cong giống hình khắc vào đá. Có cán bộ hỏi: Hay đây là sáng tạo của người dân tộc ở địa phương? Tôi nghĩ không phải, chiếc bừa được khắc vào đá núi là chiếc bừa 9 răng. Con số 9 là con số “lão dương” (số lẻ) lớn nhất, theo lý thuyết Âm Dương - Ngũ Hành. Người xưa xem là “con số tốt lành, đem lại thành quả mỹ mãn cho con người”.Nó được giữ vững từ thuở còn dùng răng gỗ đến lúc dùng răng sắt, vẫn không thay đổi. Người H’Mông mới nhập cư vào nước ta khoảng 300 năm, lại mới biết làm ruộng nước bậc thang sau này. Họ làm răng bừa tuỳ tiện là do chưa nắm được đầy đủ triết lý Kinh Dịch còn quá cao so với họ.

Với cấu tạo hợp lý của chiếc bừa gỗ, con người có thể nâng lên hạ xuống, thay đổi mặt nghiêng và độ nông sâu của răng bừa cho phù hợp với tình hình mặt ruộng, có nhiều cỏ hay ít cỏ, đất nặng hay nhẹ, chỗ nào phải nhận cỏ cho ngấu thành nguồn phân tại chỗ bón lúa, chỗ nào cần san ruộng cho bằng trước khi cắm cây lúa xuống hoặc gieo mạ…

Hai mặt thớt cối xay lúa: Ở Sapa, người khắc đá không diễn tả cối xay lúa theo đồ hoạ, hai thớt đặt chồng lên nhau, mà chọn hai mặt thớt cối xay tách rời nhau, chia múi theo nguyên tắc “Tham thiên lưỡng địa” của Kinh Dịch, thớt trên 9 múi, thớt dưới 8 múi (chênh nhau một múi) để các hàng răng cối và rãnh cối không bao giờ trùng nhau. Có thế thớt cối trên mới quay được, quay đều để các hạt thóc từ thớt trên chảy dần xuống, nằm giữa hai rãnh, được chà sát cho sạch trấu mà hạt gạo vẫn giữ còn nguyên, ít gẫy nát. Bí quyết này, trong nghề đóng cối xay cổ truyền, không bao giờ phó cả dạy cho phó nhỏ, cứ để họ làm mãi ai tinh ý thì dần dần sẽ tự học, tự biết.

Cối xay lúa là sự vận dụng tài tình lý thuyết Dịch học vào thực tiễn cuộc sống. Phải đạt đến trình độ phát triển cao, thuần thục trong nền nông nghiệp làm lúa nước, thóc lúa làm ra phải đã dư thừa, thì con người mới nghĩ ra cối xay, cối giã để biến nó thành hạt gạo thương phẩm được. Việc sáng tạo cối xay quay được trong thời cổ là không dễ.

Tri thức về thiên văn và Dịch học thời cổ đại

Ở Sapa, người xưa đã chạm khắc hai mô hình đặc sắc để ghi lại cho hậu duệ chúng ta những sự hiểu biết về thiên vănvà Dịch họcđã đạt đến trình độ siêu việt đến kinh ngạc. Đó là: Mô hình Vũ trụvà Môhình Trái đất và Mặt trăng(xem hình H.3 và H 4).

Mô hình vũ trụ (H.3) được cấu trúc theo luận thuyết Tam tài: Thiên, Địa, Nhân của Kinh Dịch và triết học phương Đông. Con người được coi là Tiểu vũ trụ, sánh ngang Trời - Đất, giữ vai trò cầu nối giữa Trời - Đất với Con người. Trong hình khắc, hình tượng nữ trên, nam dưới theo thuyết Âm - Dương ngũ hành. Bộ phận sinh dục của hai người đều phóng to hơn mức bình thường, coi việc sinh sản để bảo tồn nòi giống là hệ trọng không thể xem nhẹ. Ngay phía trên đầu người đàn ông đứng hơi khom, còn được khắc đậm quẻ Bác(Sơn Địa Bác) Cấn/Khôn với một hào Dương(nam) mà quản đến 5 hào âm(nữ). Phải chăng đây là lời răn đe, cảnh báo rằng: nguy cơ đang cận kề, đừng quá ham mê sắc dục mà mang lụy! Ý thức nhân bảo thật cao quý.

Cạnh quẻ Bác, có một hình vuôngsát bên hình tròncủa quả Đất cũng đáng làm ta chú ý vì ngoài lời chúc phúc “Mẹ tròn con vuông” quen thuộc, còn là lời dặn dò tha thiết: phải từ hình tượng Vuông - Trònđược khắc vào đá núi và hình tượng cặp bánh trưng vuông, cặp bánh giầy tròn, dâng lên bàn thờ tổ tiên trong Tết Nguyên đán hàng năm mà có nhận thức đúng về các khái niệm cơ bản nhất trong Kinh Dịch. Người thời cổ dùng Hình tròncó tượng vào thai xuôi ngược bên trong,, đặt giữa các quẻ đơn Bát quái để chỉ Thái cựclà khối khí bản nguyên của Vũ trụ. Tính của Thái cực là viên mãn (tròn đầy) và chí tịnh (tinh khiết). Cũng chính vì vốn tròn đầy, tinh khiết nên Thái cực tự nó luôn luôn chuyển động không ngừng. Từ sự chuyển động này mà có sự phân chia thành Âm - Dương. Khí nặng thuộc Âm, tụ xuống bên dưới thành đất, có giới hạn nên tượng của nó là Hình vuông. Khí nhẹ, tinh khiết thuộc Dương bốc lên cao thành Trời, dãn nở không giới hạn nên tượng của nó vẫn giữ Hình tròn giống như Thái cực. Việc dùng hình tượng vuông tròn là để phân biệt đặc tính có giới hạn và không giới hạncủa Âm - Dương.

Trên đây, chúng ta nói nhiều đến các tri thức. Dịch học chứa đựng trong hình khắc, còn về mặt tri thức Thiên văn học thì chỉ riêng việc khắc hoạ cả Mặt trời, Trái đất, Mặt trăngđều là các khối tròn đang quay; Mặt trăng nhỏ hơn Trái đất, là vệ tinh quay vòng quanh Trái đất, đã cho thấy trình độ hiểu biết về các thiên thể quen thuộc gắn bó với cuộc sống và sự thành bại của việc thâm canh lúa nước của người xưa.

Ở mô hình thứ hai (H.4) Quả đất, Mặt trăng và các dải Ngân hà cũng được suy nghĩ xây dựng từ những tri thức hiểu biết sâu sắc về thiên văn học.

Quả đất ở đây, đường xoáy ốc từ tâm ra ngoài vẫn giữ hướng từ Đông qua Tây như ở hình (H.3) song nhánh cây ở đường sinh quyển ngoài cùng thì bỏ đi, không cần thiết. Mặt trăng có thể khắc hoạ dưới dạng lưỡi liềm cho dễ nhận, song chủ tâm của tác giả lại muốn diễn tả nó hình tròn, cũng đang quaymà không cần đến đường xoáy ốc từ tâm ra như ở Trái đất. Giải pháp được chọn vừa thông minh lại vừa trí tuệ là đặt vị trí của vệ tinh này ở đúng hướng Tây Nam là hướng trăng lên vào các ngày giữa tháng. Thời gian này chính là lúc “trăng tròn”, toả ánh sáng mát dịu xuống mặt đất chúng ta. Các dải Ngân hà được mô tả bằng các dải song song hình chữ V, cũng ở phía Tây nhưng xa mặt đất hơn mặt trăng.

Các mô hình trên đây là sự cô đúc tài tình những hiểu biết về thiên văn học và Dịch học đã đạt đến trình độ tiêu biểu cho nền văn minh lúa nước thời cổ đại.

Nguồn: Xưa và Nay, số 217, tháng 8 – 2004

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.