Tiềm năng than của các bể trầm tích đệ tam Việt Nam thật to lớn
Một trong các nhiệm vụ của chương trình “Xây dựng chiến lược phát triển năng lượng bền vững đến năm 2020” (KHCN - 09) cấp nhà nước là đánh giá tiềm năng chứa than của các bể trầm tích Đệ Tam ở Việt Nam .
Một nhóm gồm các chuyên gia của Tổng công ty Dầu Khí (TSKH Trương Minh KS Trần Huyên) và Cục Địa chất (TSKH Nguyễn Tiến Bào) đã tiến hành nghiên cứu vấn đề này và sơ bộ nhận định triển vọng to lớn về tiềm năng than ở các bể trầm tích Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Mã Lai - Thổ Chu.
Về tiềm năng than
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong hầu hết giếng khoan bắt gặp than và sét than, trong đó hơn 60% giếng khoan gặp nhiều vĩa than có chiều dày và phân bố ở các chiều sâu khác nhau.
- Ở bể Sông Hồng, than chủ yếu thành thạo trong trầm tích Oligoxen, Mioxen giữa và trên, ở các độ sâu từ 800 mét đến 3140 mét, tổng độ dày thay đổi từ 5m đến 200m. Diện phân bố rất rộng ở phần đất liền và ngoài khoi Vịnh Bắc Bộ. Tiềm năng có thể đạt đến 1300 tỷ tấn (hình 1).
- Ở bể Cửu Long, than cũng thành tạo trong trầm tích Oligoxen, Mioxen giữ. Các tầng than phân bố ở các chiều sâu từ 725m đến 2000m, tổng chiều dày thay đổi từ 9-12m. Diện phân bố tương đối rộng. Tiềm năng than có thể đạt đến 170 tỷ tấn.
- Ở bể Nam Côn Sơn, các tầng than phân bố trong trầm tích Oligoxen, Mioxen và Đẹ Tứ, ở các chiều sâu 1200m đến 4450m với tổng chiều dày các lớp than từ 24 - 153m, diện phân bố rất rộng. Tiềm năng có thể đạt đến 2000 tỷ tấn.
- Ở bể Mã Lai - Thổ Chu, than phân bố chủ yếu trong trầm tích Mioxen giữa, ở các chiều sâu từ 1800m - 3200m với chiều dày tổng cộng từ 30 - 100m. Diện phân bố rất rộng. Tiềm năng than ở đây rất lớn, có thể đạt đến 4600 tỷ tấn.
Về chất lượng than:
Kết quả phân tích mẫu than, theo mức độ biến chất, thành phần hoá học, tính chất vật lý, trạng thái tồn tại có thể phân thành các loại than tồn tại ở các bể trầm tích trên là: than bùn, than nâu, than antraxit và than graphit.
Khả năng khai thác:
Từ các số liệu nghiên cứu cho thấy than ở các bể Nam Côn Sơn và Mã Lai - Thổ Chu có tiềm năng lớn, ở vùng nước sâu xa bờ, nên điều kiện khai thác là rất khó khăn và tốn kém với trình độ khoa học công nghệ hiện nay.
Trái lại ở bể Sông Hồng và bể Cửu Long tài nguyên than kém hơn, song điều kiện khai thác sử dụng có phần thuận lợi hơn. Đặc biệt là đồng bằng sông Hồng và khu vực nước nông Vịnh Bắc Bộ có thể nghiên cứu xây dựng một chương trình tổng thể thăm dò khai thác ở các tầng nông trong thế kỷ 21.
Công nghệ khai thác than dưới sâu, có thể có các dạng sau:
- Khai thác than tại vỉa bằng phương pháp đốt ngầm để thu khí than. Phương pháp này có thể gây ra các hậu quả không kiểm soát được và phá huỷ môi trường lòng đất. Hiện nay phương pháp này hầu như không được sử dụng nữa.
- Sử dụng phương pháp phá vỡ thuỷ lực mỏ than và dùng nước chuyển vụn than lên mặt đất để sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Phương pháp này ngày nay ít dùng vì chi phí lớn và cũng không an toàn cho cấu trúc lòng đất do sụt lở.
- Khai thác khí methane đồng hành trong các vĩa than bằng cách hút nước và làm giảm áp lực mỏ. Khí methane hấp thụ trong than sẽ được tách ra và đưa lên mặt đất để sử dụng. Phương pháp này ngày càng được sử dụng rộng rãi ở Mỹ, Đức... và đem lại hiệu quả kinh tế lớn, bù đắp cho sự thiếu hụt về dầu khí. Khả năng áp dụng phương pháp này để khai thác khí than ở Việt Nam là khả dĩ.
Như vậy các bể trầm tích Đệ tam chứa dầu ở Việt Nam đồng thời là các bể chứa than với tiềm năng rất lớn, có thể đạt đến trên 8000 tỷ tấn, đảm bảo cho một kế hoạch khai thác lâu dài, bù đắp cho sự cạn kiệt dầu khí trong 50 – 70 năm tới, phục vụ cho chiến lược phát triển năng lượng bền vững ở nước ta trong thế kỷ 21 và các thế kỷ sau nữa./
Nguồn: Tạp chí Địa Cầu, số 4, 6 – 2003







