Thuốc trị bệnh sa sút trí tuệ
Quá trình sinh lý bệnh dẫn đến sa sút trí tuệ và hình thành bệnh Alzheimer liên quan đến 4 giai đoạn:
- Hình thành những mảng ở não đó là protein beta-amyloid (gọi tắt là amyloid) có hại, gây độc và làm chết tế bào thần kinh;
- Tế bào thần kinh bị tổn thương và bị chết, trong đó có liên quan đến quá trình viêm;
- Thiếu hụt các chất dẫn truyền thần kinh nằm trong hệ cholinergic mà chất dẫn truyền thần kinh chủ yếu là acetylcholin và nếu enzimcholinesterase hoạt động mạnh sẽ làm thiếu hụt acetylcholin;
- Do tế bào thần kinh và chất dẫn truyền thần kinh bị thiếu hụt, sẽ dẫn đến suy giảm nhận thức và thay đổi hành vi của người bệnh.
Từ hiểu biết như trên, 4 nhóm thuốc đã được đưa ra dùng điều trị sa sút trí tuệ.
Các thuốc ngăn chặn, ức chế sự hình thành amyloid
Tuy được nghiên cứu nhiều nhưng vẫn chưa có thuốc nào chứng tỏ thật hữu hiệu.
Các thuốc bảo vệ tế bào thần kinh gồm:
Chất chống oxy hoá:
Ba vitamin: vitaminC, vitaminE và beta caroten( tiền vitaminA)và chất khoáng selen được xem là chất chống oxy hoá chống lại gốc tự do gây hại tế bào. Ngoài ra, còn có dược thảo Ginkgo biloba(Bạch quả chứa biotlavônid ), Trà xanh (chứa polyphenol) cũng có tác dụng chống oxy hoá. Tuy nhiên, dùng chất chống oxy hoá chỉ có tác dụng hỗ trợ chứ một mình chúng không thể điều trị sa sút trí tuệ.
Thuốc đối kháng thụ thể NMDA
Năm 2003, Cơ quan Quản lý Thực phẩm - Dược phẩm Mỹ (FDA) chấp thuận cho lưu hành thuốc memamtin có tác dụng kháng thụ thể NMDA (N-Me-thyI-D-Aspartate) để trị bệnh Alzheimer vừa và nặng . Memamtin giúp bảo vệ tế bào thần kinh chống lại tác dụng độc do sự kích hoạt của bệnh đối với các thụ thể glutamat.
Các thuốc ức chế cholinesterase
Có 4 thuốc được FDA (Mỹ) chấp thuận cho dùng điều trị bệnh Aizheimer nhẹ và vừa tacrin (sử dụng năm 1993), donêpzil (1997), rivastigmin (2000) galantamin (2001). Hoạt động thần kinh tốt khi hệ cholinergic hoạt động điều hoà, chất dẫn truyền thần kinh acetyl – cholin không bị enym cholinest-erase thuỷ phân quá đáng làm cho thiếu hụt. Các thuốc kháng hay ức chế cholinesterase sẽ bảo tồn hệ cholinergic giúp hoạt động thần kinh tốt hơn, cải thiện được trí nhớ và nhận thức.
Tác dụng phụ thường hay gặp của nhóm thuốc này là buồn nôn, nôn, biếng ăn, tiêu chảy. Để hạn chế tác dụng phụ, ban đầu nên dùng liều thấp rồi tăng từ từ, uống trong bữa ăn. Bốn thuốc thuộc nhóm này có cùng một cơ chế tác động, nên khi dùng một thuốc không có đáp ứng hoặc mất đáp ứng khi điều trị dài ngày thì có thể thế thuốc khác trong nhóm. Riêng galantamin ngoài tác dụng ức chế cholinesterase (cụ thể là ức chế acetyl cholinesterase) còn tăng cường cho hệ cholinergic bằng cách điều vận thụ thế nicotinic (vì thế, được cho là có tác dụng kép).
Các thuốc điều chỉnh hành vi
Trong sa sút trí tuệ có sự thay đổi hành vi của người bệnh và các rối loạn hành vi tăng dần theo sự tiến triển của bệnh. Vì vậy, có một số thuốc được dùng thêm như:
- Thuốc chống trầm cảm (trazodon, đặc biệt có nhóm thuốc mới gọi tắt nhóm SSRI như fluvoxamin,paroxetin…) dùng trị rối loạn trầm cảm.
- Thuốc chống loạn thần kinh không điển hình (risperidon, olanzapin) để trị rối loạn tâm thần phân liệt.
- Thuốc chống động kinh (divalprox, gabapentin).
- Thuốc an thần giải lo ( nhóm benzodiazepin tác dụng ngắn như triazolam) để trị lo âu.
Khi dùng chung với thuốc ức chế cholinesterase, các thuốc điều chỉnh hành vi có thể được giải liều.
Nguồn: Thuốc & sức khoẻ, số 303 (1.3.2006)








