Thực trạng trình độ công nghệ và sản phẩm của ngành thép Việt Nam hiện nay
A. THỰC TRẠNG TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ CỦA NGÀNH THÉP
1. Công nghệ luyện gang
Đến nay ngành thép Việt Nam chỉ sản xuất gang bằng công nghệ lò cao. Các công nghệ luyện kim khác, tuy đã được tiến hành nghiên cứu từ lâu, với mục tiêu giảm bớt sự lệ thuộc vào than cốc, vì nhiều lý do khác nhau, chưa có điều kiện ứng dụng tại Việt Nam. Vì vậy, hiện cả nước chỉ có 7 lò cao với tổng dung tích lò đạt 356m 3. Các lò cao này thuộc loại nhỏ và rất nhỏ, thế hệ cũ, có các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật rất lạc hậu, trên thế giới hầu hết đã và đang được loại bỏ.
2. Công nghệ luyện thép
Hầu hết các cơ sở sản xuất phôi thép hiện có của Việt Nam đều sử dụng công nghệ luyện lại bằng lò điện hồ quang, sử dụng nguyên liệu chính là thép phế liệu. Duy nhất chỉ có Công ty Gang thép Thái Nguyên có lò điện 30 tấn/mẻ, là sử dụng (50 - 60)% gang lỏng để sản xuất thép. Lò điện có dung lượng lớn nhất Việt Nam(năm 2005) là 70 tấn/mẻ của Nhà máy Luyện cán thép Phú Mỹ - công ty Thép Miền Nam .
Trong các cơ sở luyện thép hiện có, chỉ một số lò luyện thép của Tổng Công ty Thép Việt Nam và Công ty TNHH Hoà Phát được trang bị đồng bộ lò tinh luyện và máy đúc liên tục, cho phép nâng cao năng suất và chất lượng phôi thép.
3. Công nghệ cán thép
Trình độ công nghệ cán thép của nhà máy cán thép ở Việt Nam phần lớn là trung bình và lạc hậu. Mới có khoảng (20 - 25)% công suất cán các sản phẩm dài hiện có (chủ yếu là các nhà máy cán mới được đầu tư, có công suất từ 200.000 đến 400.000 tấn/năm) và nhà máy cán thép cuộn, lá cán nguội Phú Mỹ là đạt trình độ công nghệ tiên tiến của khu vực.
Có thể đánh giá trình độ công nghệ của ngành thép Việt Nam so với thế giới như sau :
- Công nghệ sản xuất gang: tương đương với những năm 1950.
- Công nghệ sản xuất phôi thép: tương đương với những năm 1970 - 1980.
- Công nghệ cán thép:
+ Các nhà máy nhỏ rất lạc hậu và lạc hậu: chiếm (15 - 20)% tổng công suất cán hiện có của cả nước, tương đương những năm 1950 - 1960.
+ Các nhà máy trung bình: (chiếm 65 - 55 )% tổng công suất cán hiện có, tương đương những năm 1970 -1980.
+ Các nhà máy hiện đại: chiếm (20 - 25)% tổng công suất cán hiện có, tương đương những năm 1990 - 2000.
B. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ SẢN PHẨM CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Hiện nay, ngành thép đã có khả năng cung cấp cho thị trường các loại sản phẩm sau:
- Phôi thép vuông đến 130 x 140 mm: 25% nhu cầu (từ năm 2006 sẽ tăng sản lượng lên (50 - 60)% nhu cầu.
- Thép thanh tròn trên CT3, Φ10 - Φ32mm: 100% nhu cầu.
- Thép thanh vằn CT3-CT5, D10-D32/D40: 100% nhu cầu.
- Thép dây Φ5,5 – Φ10mm hoặc trên 10: 100% nhu cầu.
- Thép hình (U, I, L, T) đến 160mm: (70 – 80)% nhu cầu.
- Thép cuộn, lá cán nguội: (30 – 40)% nhu cầu (từ năm 2006)
- Thép ống hàn đen và mạ kẽm Φ21 – Φ104mm: 100% nhu cầu.
- Thép hình uốn nguội từ tấm cán nóng và tấm cán nguội.
- Tôn mạ kẽm, thiếc… và mạ mầu: phần lớn nhu cầu.
- Chế phẩm kim loại khác (đinh, lưới, cáp…): phần lớn nhu cầu.
Trong giai đoạn 1996 - 2005, nhờ các biện pháp bảo hộ của Nhà nước, ngành thép đã có bước phát triển khá nhanh. Tuy nhiên, chính sách bảo hộ này cũng đã phần nào hạn chế việc tự nâng cao năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp trong ngành. Hầu hết các sản phẩm thép trong nước là thép cacbon thông thường dùng cho xây dựng.
Đánh giá một cách tổng quát, năng lực cạnh tranh chung của sản phẩm ngành thép Việt Nam không cao và có sự khác nhau giữa các nhóm sản phẩm :
- Các sản phẩm có năng lực cạnh tranh khá: phôi thép (từ gang tự sản xuất), thép cuộn, lá cán nguội.
- Năng lực cạnh tranh trung bình: thanh vằn, các sản phẩm gia công sau cán như thép ống, thép lá mạ màu, mạ kẽm, lưới thép.
- Năng lực cạnh tranh thấp: thép thanh tròn trơn, thép dây, thép hình.
KẾT LUẬN
Với những nhận định về hiện trạng công nghệ sản xuất và các sản phẩm thép nêu trên khi hội nhập với kinh tế thế giới, ngành thép sẽ phải đối mặt với những thách thức rất lớn. Chắc chắn, chỉ có nhà máy nào có công nghệ tiên tiến, năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt và đặc biệt phải bảo đảm giá thành sản phẩm có khả năng cạnh tranh, mới có thể tồn tại và phát triển.
Đối với các công trình luyện kim mới sẽ đầu tư trong thời gian tới, nhất thiết phải có sự lựa chọn kỹ lưỡng về công nghệ và trang thiết bị, nhằm bảo đảm trình độ công nghệ sau vài năm xây dựng, bắt đầu vào sản xuất sẽ không bị lạc hậu. Đồng thời chất lượng sản phẩm và đặc biệt là giá thành sản phẩm phải không thua kém các nước trong khu vực và trên thế giới.








