Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 09/05/2007 23:21 (GMT+7)

Thực trạng trình độ công nghệ và sản phẩm của ngành thép Việt Nam hiện nay

A. THỰC TRẠNG TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ CỦA NGÀNH THÉP

1. Công nghệ luyện gang

Đến nay ngành thép Việt Nam chỉ sản xuất gang bằng công nghệ lò cao. Các công nghệ luyện kim khác, tuy đã được tiến hành nghiên cứu từ lâu, với mục tiêu giảm bớt sự lệ thuộc vào than cốc, vì nhiều lý do khác nhau, chưa có điều kiện ứng dụng tại Việt Nam. Vì vậy, hiện cả nước chỉ có 7 lò cao với tổng dung tích lò đạt 356m 3. Các lò cao này thuộc loại nhỏ và rất nhỏ, thế hệ cũ, có các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật rất lạc hậu, trên thế giới hầu hết đã và đang được loại bỏ.

2. Công nghệ luyện thép

Hầu hết các cơ sở sản xuất phôi thép hiện có của Việt Nam đều sử dụng công nghệ luyện lại bằng lò điện hồ quang, sử dụng nguyên liệu chính là thép phế liệu. Duy nhất chỉ có Công ty Gang thép Thái Nguyên có lò điện 30 tấn/mẻ, là sử dụng (50 - 60)% gang lỏng để sản xuất thép. Lò điện có dung lượng lớn nhất Việt Nam(năm 2005) là 70 tấn/mẻ của Nhà máy Luyện cán thép Phú Mỹ - công ty Thép Miền Nam .

Trong các cơ sở luyện thép hiện có, chỉ một số lò luyện thép của Tổng Công ty Thép Việt Nam và Công ty TNHH Hoà Phát được trang bị đồng bộ lò tinh luyện và máy đúc liên tục, cho phép nâng cao năng suất và chất lượng phôi thép.

3. Công nghệ cán thép

Trình độ công nghệ cán thép của nhà máy cán thép ở Việt Nam phần lớn là trung bình và lạc hậu. Mới có khoảng (20 - 25)% công suất cán các sản phẩm dài hiện có (chủ yếu là các nhà máy cán mới được đầu tư, có công suất từ 200.000 đến 400.000 tấn/năm) và nhà máy cán thép cuộn, lá cán nguội Phú Mỹ là đạt trình độ công nghệ tiên tiến của khu vực.

Có thể đánh giá trình độ công nghệ của ngành thép Việt Nam so với thế giới như sau :

- Công nghệ sản xuất gang: tương đương với những năm 1950.

- Công nghệ sản xuất phôi thép: tương đương với những năm 1970 - 1980.

- Công nghệ cán thép:

+ Các nhà máy nhỏ rất lạc hậu và lạc hậu: chiếm (15 - 20)% tổng công suất cán hiện có của cả nước, tương đương những năm 1950 - 1960.

+ Các nhà máy trung bình: (chiếm 65 - 55 )% tổng công suất cán hiện có, tương đương những năm 1970 -1980.

+ Các nhà máy hiện đại: chiếm (20 - 25)% tổng công suất cán hiện có, tương đương những năm 1990 - 2000.

B. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ SẢN PHẨM CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM

Hiện nay, ngành thép đã có khả năng cung cấp cho thị trường các loại sản phẩm sau:

- Phôi thép vuông đến 130 x 140 mm: 25% nhu cầu (từ năm 2006 sẽ tăng sản lượng lên (50 - 60)% nhu cầu.

- Thép thanh tròn trên CT3, Φ10 - Φ32mm: 100% nhu cầu.

- Thép thanh vằn CT3-CT5, D10-D32/D40: 100% nhu cầu.

- Thép dây Φ5,5 – Φ10mm hoặc trên 10: 100% nhu cầu.

- Thép hình (U, I, L, T) đến 160mm: (70 – 80)% nhu cầu.

- Thép cuộn, lá cán nguội: (30 – 40)% nhu cầu (từ năm 2006)

- Thép ống hàn đen và mạ kẽm Φ21 – Φ104mm: 100% nhu cầu.

- Thép hình uốn nguội từ tấm cán nóng và tấm cán nguội.

- Tôn mạ kẽm, thiếc… và mạ mầu: phần lớn nhu cầu.

- Chế phẩm kim loại khác (đinh, lưới, cáp…): phần lớn nhu cầu.

Trong giai đoạn 1996 - 2005, nhờ các biện pháp bảo hộ của Nhà nước, ngành thép đã có bước phát triển khá nhanh. Tuy nhiên, chính sách bảo hộ này cũng đã phần nào hạn chế việc tự nâng cao năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp trong ngành. Hầu hết các sản phẩm thép trong nước là thép cacbon thông thường dùng cho xây dựng.

Đánh giá một cách tổng quát, năng lực cạnh tranh chung của sản phẩm ngành thép Việt Nam không cao và có sự khác nhau giữa các nhóm sản phẩm :

- Các sản phẩm có năng lực cạnh tranh khá: phôi thép (từ gang tự sản xuất), thép cuộn, lá cán nguội.

- Năng lực cạnh tranh trung bình: thanh vằn, các sản phẩm gia công sau cán như thép ống, thép lá mạ màu, mạ kẽm, lưới thép.

- Năng lực cạnh tranh thấp: thép thanh tròn trơn, thép dây, thép hình.

KẾT LUẬN

Với những nhận định về hiện trạng công nghệ sản xuất và các sản phẩm thép nêu trên khi hội nhập với kinh tế thế giới, ngành thép sẽ phải đối mặt với những thách thức rất lớn. Chắc chắn, chỉ có nhà máy nào có công nghệ tiên tiến, năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt và đặc biệt phải bảo đảm giá thành sản phẩm có khả năng cạnh tranh, mới có thể tồn tại và phát triển.

Đối với các công trình luyện kim mới sẽ đầu tư trong thời gian tới, nhất thiết phải có sự lựa chọn kỹ lưỡng về công nghệ và trang thiết bị, nhằm bảo đảm trình độ công nghệ sau vài năm xây dựng, bắt đầu vào sản xuất sẽ không bị lạc hậu. Đồng thời chất lượng sản phẩm và đặc biệt là giá thành sản phẩm phải không thua kém các nước trong khu vực và trên thế giới.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.