Thử tìm giải pháp “sống chung” với biến đổi khí hậu: Chiến lược thích nghi bền vững, yếu tố sống còn
Không thể giải quyết một sớm một chiều
Tại nhiều cuộc hội thảo đánh giá về tác động của BĐKH và những phương thức ứng phó với tình trạng này, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giải pháp khắc phục dựa trên cơ sở xem xét, khảo sát tình hình thực tế.
Dù đề xuất nhiều phương án khác nhau, nhưng ai cũng chung kết luận về tác hại rất đáng báo động của BĐKH với ngành nông nghiệp, nhất là tình trạng nước biển xâm nhập ngày càng sâu vào đất liền, làm nhiều diện tích lúa bị nhiễm mặn. GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ khẳng định: “ ứng phó với mực nước biển dâng là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầuvề nhiều mặt: kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng... Theo tôi, các địa phương phải tranh thủ điều tra, nghiên cứu trên từng địa bàn có thể bị ảnh hưởng để chuẩn bị phương án ứng phó tốt nhất. Cần phải nâng cao nhận thức của người dân về ứng phó với BĐKH; xác định và tiến hành sớm những nội dung nghiên cứu cần thiết. Nhà nước cần chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu, đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các đề tài khoa học liên quan đến lĩnh vực này... Riêng với ngành nông nghiệp, việc nghiên cứu chọn tạo giống mới có khả năng thích nghi với điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt hơn nên triển khai ngay và phải được triển khai sâu rộng”.
GS.TS Nguyễn Đức Ngữ, Giám đốc Trung tâm Khí tượng thủy văn và Môi trường cho rằng, để giảm nhẹ khả năng bị tổn hại do BĐKH gây ra, cần có sự điều chỉnh ở các hoạt động kinh tế, xã hội... Các hoạt động ứng phó với BĐKH phải được triển khai ngay từ bây giờ và phải được lồng ghép với kế hoạch của các ngành, lĩnh vực, địa phương... Ngành nông nghiệp nên chú trọng xây dựng một số giải pháp thủy lợi khả thi như: làm đê bao kết hợp hệ thống cống và trạm bơm ở các vùng ven biển để tránh ngập lụt; xây dựng hồ chứa nước ngọt ngay tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong các vùng ngập hay bán ngập để trữ nước, tránh tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất; ứng dụng công nghệ vật liệu mới vào xây dựng các công trình để giảm chi phí...
Để đối phó với tình trạng BĐKH, mới đây, Cục Quản lý xây dựng công trình (Bộ Nông nghiệp và PTNT) phối hợp với các ngành chức năng đã hoàn thành các thủ tục để tiến hành giai đoạn II của dự án phát triển thủy lợi khu vực ĐBSCL. Công tác phát triển thủy lợi giai đoạn này gắn với ứng phó nước biển dâng cao do BĐKH trong tương lai. Theo đó, việc xây dựng hệ thống thủy lợi sẽ phục vụ đa mục tiêu (kiểm soát mặn, điều tiết nước, ngọt hóa và cấp nước sinh hoạt, đáp ứng tốt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản), gắn với phát triển giao thông nông thôn để phát huy hiệu quả đồng bộ. Cao trình xây dựng của các công trình mới phải có khả năng ngăn được nước biển dâng. Dự án này do Bộ Nông nghiệp và PTNT làm chủ đầu tư, nguồn vốn hơn 100 triệu USD, chủ yếu vay của Ngân hàng Thế giới. Dự án gồm 3 tiểu dự án thủy lợi: Nam Mang Thít (thuộc Trà Vinh và Vĩnh Long); Quản Lộ - Phụng Hiệp (thuộc Sóc Trăng, Bạc Liêu); ô Môn - Xà No (thuộc Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang) phục vụ tưới tiêu, kiểm soát lũ, triều và mặn cho 450.000ha đất tự nhiên. Ngoài ra, còn 1 tiểu dự án cung cấp nước sạch cho 2 triệu dân thuộc 13 tỉnh, thành trong khu vực. Dự án được triển khai từ năm 2004, đến nay đã xây dựng xong 148 cống cấp I, II; nạo vét 2.000km kênh cấp I, II và cấp nước sạch cho khoảng 240.000 hộ dân. Riêng tiểu dự án Nam Mang Thít đã cơ bản hoàn thành.
Thích ứng và giảm nhẹ
Các kịch bản của BĐKH cho thấy, nông nghiệp, nông thôn là khu vực dễ bị tổn thương nhất bởi tình trạng mất đất ở, bị thu hẹp đất sản xuất dẫn tới nguy cơ mất an ninh lương thực. Để chủ động né tránh, khắc phục có hiệu quả tác động của BĐKH,PGS. TS.Lê Quang Trí, Giám đốc Viện Nghiên cứu BĐKH (Đại học Cần Thơ) cho rằng, trên cơ sở Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, cần tập trung tuyên truyền để nhân dân chủ động ứng phó, bảo đảm cho nông nghiệp phát triển bền vững.
TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu BĐKH, Trường Đại học Cần Thơ cho biết: “Hiện chưa có giải pháp khả thi để chế ngự mặn xâm nhập, nước biển dâng. Giải pháp khả dĩ nhất là làm hai công việc song song: giảm thiểu hạn chế thông qua các biện pháp bảo vệ môi trường -tài nguyên, chống ô nhiễm và thích nghi từng bước với sự biến đổi. Có thể điều chỉnh cơ cấu sản xuất mùa vụ, quy hoạch sử dụng đất hợp lý, nuôi trồng thích hợp theo từng vùng sinh thái, cải thiện dần khả năng chịu mặn, chịu hạn của cây trồng và vật nuôi”. |
Đơn cử như lĩnh vực trồng trọt, cần nghiên cứu sàng lọc các giống cây trồng chủ lực như: lúa, ngô chịu được các điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Với việc chống úng ngập, nước mặn xâm nhập vào các vùng đất ngọt tại khu vực ĐBSCL, có thể áp dụng các giải pháp như kiên cố hệ thống đê, công trình thủy lợi, cảnh báo sớm những vùng có nhiều khả năng bị nước mặn xâm nhập khi nhiệt độ tăng cao. Quan trọng hơn là rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và bố trí cây trồng hợp lý, nhất là ở những nơi dễ bị tổn thương do BĐKH. Trên cơ sở quy hoạch, vùng đất cao sẽ chuyển sang trồng cây chịu hạn để giảm áp lực về nước tưới; vùng thường xuyên xảy ra úng ngập chuyển sang trồng các loại cây có khả năng chịu úng, phèn, nhiễm mặn.
Bà Nguyễn Thị Nghiệm, cán bộ Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang chia sẻ: “Tiền Giang đã nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành động của cộng đồng bằng cách giáo dục, tuyên truyền bảo vệ môi trường trong học đường, trong cộng đồng; tổ chức tập huấn, tuyên truyền, phát tờ rơi liên quan đến BĐKH. Nhờ đó, một bộ phận nhân dân đã có sự thay đổi rõ rệt trong hành vi, lối sống. Nhiều người sử dụng bóng đèn ít tiêu hao điện năng; thêm nhiều hộ chăn nuôi xây dựng hầm biogas để tự sản xuất gas đun nấu và phát điện trong gia đình; một số hộ dùng bình nước nóng bằng năng lượng mặt trời,...”.
Để ứng phó và thích ứng với BĐKH, Sở Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Long đã xây dựng chương trình hành động thích ứng với BĐKH với mục tiêu: Đảm bảo ổn định, an toàn dân cư cho các đô thị và vùng nông thôn; đảm bảo sản xuất nông nghiệp ổn định đối với trên 180.000ha lúa, gần 4.000ha rau màu và cây công nghiệp hàng năm, hơn 45.000ha cây lâu năm và 15.000ha ao, mương vườn, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; đảm bảo an toàn hệ thống thủy lợi, các công trình dân sinh, hạ tầng kinh tế kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.
Ông Phan Mộng Thành, Phó chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh Cà Mau cho biết, địa phương đang vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ tỉnh di dời khẩn cấp trên 4.500 hộ dân đến các cụm tuyến dân cư an toàn nằm trong vùng sạt lở nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH. Trong đó, huyện Trần Văn Thời có đến 1.880 hộ, huyện Phú Tân 1.000 hộ, các hộ còn lại ở các huyện U Minh, Năm Căn, Ngọc Hiển và Cái Nước.
Theo PGS.TS Trương Quang Học, cán bộ Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và Môi trường (Đại học Quốc gia Hà Nội), để giảm nhẹ những hậu quả do BĐKH mang tới, các cấp chính quyền cần có những động thái mạnh mẽ hơn như xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia; hướng dẫn cụ thể cho các ngành, địa phương chủ động xây dựng chương trình phù hợp. Bên cạnh trách nhiệm và hành động của các nhà quản lý, nhà khoa học, mỗi người dân cũng cần có ý thức và hành động thiết thực để góp phần giảm nhẹ tác động của BĐKH. Việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với ổn định sản xuất, bảo vệ môi trường, trước hết trong lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, giao thông, công nghiệp, đô thị; phải phân lại vùng thuỷ văn - thuỷ lực nhằm duy trì sản xuất, đời sống bền vững; nghiên cứu, sản xuất, nhân rộng các giống cây - con chịu mặn; tăng cường truyền thông và nâng cao năng lực quản lý môi trường.








