Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 12/02/2010 17:55 (GMT+7)

Thư ngỏ gửi GS. TSKH. Nguyễn Sĩ Mão

Cách đây mấy tháng khi tham gia chấm tốt nghiệp cho sinh viên ngành Máy năng lượng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trong mục liệt kê tài liệu tham khảo của một số đồ án tốt nghiệp có ghi “GS. TSKH Nguyễn Sĩ Mão - Lò hơi”, tôi đã nghĩ sinh viên do quá tôn trọng thầy giáo hướng dẫn nên đã ghi thiếu tên tôi. Tuy nhiên gần đây, khi qua các hiệu sách, thấy có bày bán bộ sách 2 tập “Lò hơi”, tác giả Nguyễn Sĩ Mão, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, là sách được xuất bản để kỷ kiện 50 năm Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, sách in xong và nộp lưu chiểu quý III/ 2006 nên tôi đã mua ngay 2 tập.

Trong lời nói đầu của bộ sách mới, có đoạn: “ cách đây 30 năm, chúng tôi đã biên soạn cuốn “Thiết bị lò hơi”… sau 30 năm phát hành cuốn sách trên, chúng tôi mong muốn cập nhật thêm các kiến thức mới, các thành tựu mới cả về mặt lý thuyết cũng như thực tế về lò hơi. Đồng thời cùng với sự hoà nhập với thế giới các tính toán cũng như khái niệm mới, tiêu chuẩn mới về lò hơi cũng phải được quy định lại cho phù hợp, hoà nhập với các tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy đã ra đời cuốn sách mới về “Lò hơi””.

Nếu đúng như mục đích đã ghi ở lời nói đầu trên thì việc biên soạn lại bộ sách “Thiết bị lò hơi” do Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật xuất bản từ năm 1974 mà tôi và anh đứng tên tác giả là một việc hợp lý.

Tuy nhiên khi đối chiếu với bộ sách “Thiết bị lò hơi” thì mục đích trên gần như không thực hiện, sự thay đổi nội dung là quá ít, không đáng kể, trong đó:

- Vẫn giữ nguyên 20 chương, với tên gọi của chương và thứ tự của chương không thay đổi.

- Cách đề mục của mỗi chương và thứ tự các đề mục trong chương cũng hầu như giữ nguyên. Ở một vài chỗ nếu có thay đổi thì chỉ là thay đổi cách đánh số thứ tự của một số đề mục nhỏ từ a, b, c… thành 1, 2, 3…

- Nội dung gần như không thay đổi nên trong hầu hết các chương, việc đánh số thứ tự các công thức và số thứ tự hình vẽ cũng giữ nguyên. Các hình vẽ hầu như giữ nguyên, song chất lượng in thì kém hơn so với bản gốc.

- Có nhiều chương giữ nguyên hoàn toàn, không thay đổi gì.

Với nội dung gần như được giữ nguyên, trong đó tôi tác giả chính, chiếm 80% khối lượng của quyển sách (tôi viết 14/20 chương; chiếm 343/430 trang, anh viết 6/20 chương; chiếm, 87/430 trang), song ở lần in mới này, chỉ có tên anh mà không có tên tôi là đồng tác giả.

Bộ sách in năm 1973 gồm 2 tập: Tập 1 từ Chương 1 đến Chương 13 viết về nhiên liệu và những vấn đề lý thuyết cơ bản của lò hơi,Tập 2 từ Chương 14 đến 20 viết về cấu tạo và vận hành lò hơi.

Bộ sách in năm 2006 gồm 2 tập, mỗi tập 10 chương.

Quyển Thiết bị lò hơi 1974 in chữ nhỏ, khoảng cách giữa các dòng bé nên có 430 trang; quyển Lò hơi 2006 in chữ to, khoảng cách giữa các dòng thưa nên có 548 trang, chênh nhau tới 118 trang, trong đó số trang thêm bớt gộp lại chỉ khoảng 10 trang (theo khổ chữ in năm 2006).

Đây là điều tôi hoàn toàn bất ngờ, thực sự không hiểu nổi, đặc biệt là bộ sách kỷ niệm 50 năm thành lập trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trong đó tôi đã công tác cả đời (trên 40 năm, từ khi tốt nghiệp ra trường đến khi về hưu), liên tục là nhóm trưởng nhóm lò hơi, mà anh là một thành viên của nhóm.

Chuyện đã quá lâu, xin được nói rõ hơn.

Năm 1964, tôi viết bộ sách “Lò hơi”, gồm 2 tập, trên 500 trang do trường Đại học Bách khoa Hà Nội in ronéo. Sách in ronéo thì không có nhuận bút, chỉ lưu hành nội bộ trong nhà trường. Trên cơ sở quyển sách in ronéo này, và do vị trí quan trọng của môn học Lò hơi cho ngành nhiệt điện, được các cấp của trường Đại học Bách khoa Hà Nội ủng hộ (vì thủ tục lúc đó đòi hỏi như vậy), quyển sách Lò hơi đã được đăng ký xuất bản tại Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Đây là bộ sách chuyên môn đầu tiên của ngành được đưa vào kế hoạch in typo tại nhà xuất bản, được phát hành động rãi ra công chúng ( trong thời bao cấp lúc đó, đối với ngành nhiệt điện là một ngành hẹp, số sinh viên được đào tạo ít, việc được xuất bản tại nhà xuất bản của nhà nước (chưa có nhà xuất bản tư nhân), có thể coi là một đặc biệt đối với quyển sách Thiết bị lò hơi. Rất tiếc vì đa số bạn đọc hiện nay không có bản in 1974 nên không có điều kiện để đối chiếu nội dung giữa 2 bộ sách, tôi xin được ghi lại các chương mục của 2 bộ sách với ghi chú là những điểm thay đổi và không thay đổi của bộ sách 2006 so với 1974).Anh tốt nghiệp đại học ở Trung Quốc, ở lại thực tập thêm về cháy, nghĩ rằng anh có chuyên môn sâu về lò hơi và cháy nên đã phân công anh viết 8 chương trong tổng số 20 chương của quyển sách. Từ nơi sơ tán, chủ yếu là dịch cho tôi bản thảo như một bản viết nháp, chủ yếu là dịch nguyên các chương của quyển sách tiếng Nga (Kotelrruie agregatư - O.M Rabinovitch - Matgiz - 1963). Lúc ấy tiếng Nga anh còn chưa thạo nên bản dịch có nhiều sai sót, và không đúng với cách hành văn của một quyển giáo trình đại học, trong bản thảo không có hình vẽ, chỉ ghi chú tên hình. Tôi viết thư cho anh, với ý nói rằng nếu viết như vậy thì không thể coi là viết sách được. Anh đã viết thư nói tuỳ tôi quyết định. Tôi đã hiệu đính và bổ sung 6 chương do anh viết, vợ tôi đã mất nhiều công sức can các hình vẽ, tôi đã cắt nhiều hình vẽ cấu tạo không dễ can từ các sách của tôi để cung cấp các hình vẽ cho 6 chương này, viết lại hoàn toàn hai chương (buồng lửa ghi và buồng lửa phun). Sáu chương đứng tên anh là những chương ngắn, nội dung không nhiều, riêng chương Hệ thống nghiền than, tôi đã viết lại rất nhiều, cắt rất nhiều hình vẽ không can được để đưa vào trong chương. Đúng ra 6 chương đứng tên phải ghi là Nghĩa + Mão cùng viết, nhưng với tinh thần tập thể lúc đó, tôi chỉ ghi tên anh, vả lại 6 chương đề tên anh cũng chỉ chiếm một tỷ lệ khối lượng bé trong tổng khối lượng chung của quyển sách.

Vì vậy trong lời nói đầu của quyển in 1974, đã ghi tôi viết các chương 1, 5, 7, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 18, 19, 20, anh viết các chương 2, 3, 4, 6, 8, 17.

Khi quyển sách ra đời, tiền nhuận bút (khoảng 700 đồng), lúc đó đã trích tặng 150 đồng để bộ môn làm một bữa liên hoan tại khách sạn Hàng Buồm (mỗi suất 5 đồng cho khoảng 30 người), còn lại gần 600 đồng, tôi và anh chia đôi. Điều này các anh trong bộ môn trước đây đều biết. So với đồng lương thì tiền nhuận bút lúc đó là một khoản tiền lớn.

Quyển sách ra đời cuối năm 1974, năm 1975 giải phóng niềm Nam, thống nhất đất nước, nhu cầu sách khoa học kỹ thuật tăng vọt, sinh viên các trường Bách khoa không có sách học, lúc ấy cũng chưa có photocopy nên trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã đề nghị bộ môn cho in lại, dưới dạng sao chụp nguyên bản gốc. Lần này chỉ in với số lượng ít, không có nhuận bút, bộ môn phải tự bỏ tiền ra mua sách cho sinh viên trong ngành dùng và bù lại chi phí in cho nhà trường. Nói là bộ môn bỏ tiền ra nhưng thực ra là trích tiền các đề tài chuyển giao công nghệ của tôi.

Bộ sách in năm 1974 được viết chủ yếu dựa vào các tài liệu tiếng Nga, các chương tôi đứng tên đều tham khảo rất nhiều tài liệu, không đơn giản chỉ là việc dịch nguyên bản các chương của một quyển sách giáo khoa bằng tiếng Nga nào đó.

Trong thư này, tôi chưa có ý định tranh luận gì về những nội dung mà anh thay đổi, dù rằng rất ít, điều này xin để những người có chuyên môn sâu về lò hơi đánh giá. Chỉ xin nêu vài ý sau:

1. Ở phần Lời nói đầu, anh nói có sử dụng tiêu chuẩn ASTM, ASME, song thực tế trong cuốn sách gần như không có sử dụng gì, có chăng chỉ là phần ký hiệu các thành phần hoá học của than bằng tiếng Anh thay cho tiếng Việt của bản in 1974, trong khi Việt Nam đã có đầy đủ tiêu chuẩn về than. Mặt khác, trong toàn bộ quyển sách, các ký hiệu đều được ghi bằng tiếng Việt, nay chỉ có riêng ở chương 2 (Nhiên liệu) ghi ký hiệu bằng tiếng Anh đã tạo ra sự thiếu nhất quán về ký hiệu của toàn bộ quyển sách. Đây là điều cấm kỵ với người viết sách.

Hơn nữa, nếu đã theo ASTM thì tại chương 8 (Hệ thống nghiền than), các ký hiệu và khái niệm về bột than (rây than và khả năng nghiền than) cũng nên thay đổi theo ASTM nhưng vẫn giữ như cũ (R 90và K ng- hệ số khả năng nghiền).

Quan niệm về cách tính các tổn thất nhiệt của lò hơi (chương 4) có nhiều khác biệt giữa cách tính theo Liên Xô và cách tính của phương Tây, song bản chất hai cách tính vẫn là một. Tuy nhiên nếu đã theo ASTM thì cũng cần phải thay đổi cách trình bày về tính các tổn thất nhiệt. Ở đây anh không thay đổi gì.

Cũng như vậy, nếu theo ASME thì ký hiệu các loại thép cũng phải thay đổi, không thể ký hiệu theo kiểu Liên Xô, thậm chí giữa nguyên cả chữ Nga.

2. Cũng có một số nội dung mà bản thân tôi cũng muốn sửa khi có điều kiện in lại như chương 10 (Trao đổi nhiệt trong lò hơi), với hầu hết công thức và toán đồ tính toán là thực nghiệm dựa theo các tài liệu của Liên Xô, in từ trước năm 1973, hiện nay đã có nhiều thay đổi. Riêng tại mục 10.5 – Tính nhiệt lò hơi trên máy tính điện tử là nội dung trình bày về chương trình tính nhiệt lò hơi do tôi lập ra trên máy tính Minsk 22, là loại máy tính đã lạc hậu quá nhiều so với công nghệ máy tính hiện nay, nhưng anh đã cho in lại hoàn toàn, không sửa chữa gì (chỉ khác là bản in 1974 của chương này có 40 trang, còn tại bản in 2006 có 51 trang, nội dung không thay đổi).

3. Trong 16 chương đứng tên tôi viết trong cuốn “Lò hơi” mới xuất bản, anh đã lược bỏ đi một vài phần mở đầu (tổng cộng khoảng 4 trang) là nội dung nói về những khái niệm, cách đặt vấn đề, cách phân loại, ý nghĩa… tôi cho rằng việc lược bỏ này là tuỳ thuộc quan niệm của người thầy giáo giảng bài trên lớp, còn khi viết sách thì đây là những nội dung cần thiết. Đối với 16 chương này anh chỉ bổ sung phần nói về buồng lửa đốt nhiên liệu khí ở chương 9 (mục 9.3.1, từ trang 203 - 215), còn các nội dung khác của Chương 0 và các chương khác coi như giữ nguyên. Sáu chương đứng tên anh viết cũng sửa rất ít, nhiều chương vẫn giữ nguyên.

Trong mục liệt kê tài liệu tham khảo, anh đã liệt kê 45 tài liệu, trong đó 6 tài liệu tiếng Việt, và 9 tài liệu tiếng Nga, 5 tài liệu tiếng Trung, còn 25 tài liệu là tiếng Anh. Tôi không rõ với nội dung thay đổi rất ít như vậy thì với số lượng rất lớn tài liệu sẽ cung cấp những nội dung đã thay đổi nào trong quyển sách.

Việc trường Đại học Bách khoa Hà Nội cho in quyển sách này nhân kỷ niệm 50 năm thành lập trường chỉ với tên tác giả là anh Mão là đã phủ nhận hoàn toàn sự đóng góp cả đời của tôi đối với trường.

Việc nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật in bộ sách “Lò hơi” với tên tác giả là anh hầu như giống hoàn toàn bộ sách do chính Nhà xuất bản đã xuất bản trước đó với tên tác giả là tôi và anh, trong đó tôi là chính yếu, là sự vi phạm bản quyền rõ rệt.

Tôi hết sức buồn và không thể hiểu được về việc này.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.