Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 24/01/2006 16:18 (GMT+7)

Thiết bị héo chè cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Héo chè là công đoạn đầu tiên của quá trình sản xuất chè đen, song nó lại là công đoạn quan trọng, quyết định đến quá trình công nghệ ở các giai đoạn sau và chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Héo chè đúng kỹ thuật chẳng những tạo ra sự đồng đều về độ đẻo của búp, mà còn giữ lại được phần lớn chất tanin, chất hoà tan cũng như làm tăng hoạt tính men polyphenoloxydaza tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vò và lên men sau này để tạo nên tính chất đặc trưng của sản phẩm, tránh được hiện tượng gãy vụn, ôi ngốt…

Tình trạng thiết bị héo chè kém hiệu quả

Mấy năm gần đây cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, ngành chế biến ché, nhất là chế biến chè đen tham gia vào thị trường xuất khẩu đã có những biến đổi đáng kể. Số lượng và công suất chế biến của các công ty cơ sở chế biến quy mô vừa và nhỏ tăng lên khá nhanh. Điều đáng nói là do được hình thành tự phát, chạy theo lợi nhuận đơn thuần trước mắt nên các thiết bị chế biến, đặc biệt là thiết bị ở công đoạn héo chè của các cơ sở chế biến ở quy mô này đều ở dạng tự thiết kế, chế tạo, thiếu sự hiểu biết cần thiết về khoa học công nghệ nên hiệu quả sản xuất không cao, chi phí năng lượng nhiều, chất lượng sản phẩm thấp. Những sản phẩm này khi tham gia thị trường xuất khẩu làm cho uy tín và sức cạnh tranh cũng như thị phần nói chung của chè đen Việt Nam bị ảnh hưởng. Giá chè xuất khẩu của Việt Nam thường thấp hơn đáng kể so với giá chè thế giới. Giá bán bình quân của chè đen Việt Nam chỉ dao động trong khoảng 900 - 1100 USD/tấn, trong khi giá chè đen bình quân của thế giới thường là 1400 - 1800 USD/tấn.

Khảo sát công đoạn héo chè các doanh nghiệp chế biến chè quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Yên Bái, Thái Nguyên và Phú Thọ các chuyên gia chế biến đã nhận thấy tất cả các doanh nghiệp này đều sử dụng công nghệ héo chè trên các máng héo. Công nghệ này tuy phải sử dụng nhiều lao động, không cho phép cơ giới hoá, tự động hoá trong sản xuất, nhưng lại rất thích hợp đối với quy mô sản xuất và khả năng đầu tư hiện tại của các doanh nghiệp này. Đáng chú ý là tất cả các máng héo được sử dụng đều được thiết kế, chế tạo theo cảm tính, không có cơ sở khoa học. Tỷ lệ giữa chiều dài, chiều rộng và chiều cao của các máng héo không hợp lý khiến cho sự thao tác của công nhân gặp khó khăn, năng suất thấp. Chiều cao tính từ đáy máng đến mặt lưới chứa chè thường thấp và đồng đều từ đầu máng đến cuối máng, nhiệt độ của không khí nóng dùng để héo chè thường cao (từ 42°C trở lên) làm cho quá trình vệ sinh công nghiệp không thuận lợi, đồng thời khả năng đồng đều của quá trình héo bị ảnh hưởng, kết thúc quá trình héo nhiều bị ảnh hưởng, kết thúc quá trình héo nhiều vị trí búp chè vẫn còn tươi, nhưng một số vị trí lá chè thường bị táp…, tỷ lệ chè héo đúng đạt thấp.

Công nghệ và thiết bị cải tiến

Xuất phát từ thực tế sản xuất triên, nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Đỗ Văn Chương làm chủ nhiệm đã đề xuất ý tưởng nghiên cứu những thông số cơ bản của máng héo chè làm cơ sở cho quá trình thiết kế, chế tạo loại thiết bị này. Đó là việc thiết kế, chế tạo máng héo chè không nên chỉ đơn thuần dựa vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp mà trước hết cần coi lưu lượng của quạt gió dùng để héo chè là thông số chủ đạo. Bằng kinh nghiệm thực tế kết hợp với việc tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan, nhóm nghiên cứu cho thấy lưu lượng gió cấp cho quá trình héo chè đen thích hợp nhất là khoảng 1000m 3/giờ cho mỗi mét vuông sàn héo. Độ dốc của máng héo vào khoảng 1/100 để có thể tạo ra áp lực đồng đều của luồng gió nóng đối với lớp chè được héo từ đầu đến cuối máng héo. Tỷ lệ giữa chiều rộng của máng héo (R) và đường kính quạt gió bằng 1,8 để có chiều dày lớp chè héo vào khoảng 25 cm và thuận tiện cho sự thao tác cảu công nhân… Các doanh nghiệp có thể dựa trên các thông số này để tự thiết kế và chế tạo các thiết bị héo chè phù hợp với điều kiện cụ thể của mình.

Không dừng lại ở đây, các chuyên gia trong nhóm nghiên cứu còn khảo sát các nguồn thiết bị trên thị trường để cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến thông tin cần thiết về các loại quạt hướng trục thông dụng trong công đoạn héo chè. Đó là các loại quạt do Việt Nam sản xuất cũng như những loại quạt của Ấn Độ hiện đang có mặt trên thị trường nước ta. Thông tin về những loại quạt này được trình bày trong bảng 1.

Tiến thêm một bước nữa, để thuận tiện cho quá trình áp dụng, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các kết quả của mình, thiết kế một loạt các loại máng héo để các doanh nghiệp chế biến có thể dựa vào đây để lựa chọn cho mình những thiết bị phù hợp điều kiện sản xuất (Bảng 2).

Để kiểm chứng các kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã chế tạo và lắp đặt loại máng héo có kích thước dài 22m, rộng 1,8m (loại máng héo được tô đậm trong bảng trên) tại Xí nghiệp chè Hoài Trung (thôn Chí Chủ, xã Chí Tiên, huyện Thanh Ba, Phú Thọ). Quá trình thực nghiệm cho thấy sự chênh lệch nhiệt độ giữa phần bên dưới và phần bên trên của lớp chè vào khoảng 1°C. Sự chênh lệch nhiệt độ này cũng như nhiệt độ của luồng khí nóng bên dưới và bên trên lớp chè hầu không thay đổi từ đầu máng đến cuối máng héo, chứng tỏ sự đồng đều của khối chè trong quá trình héo. Các kết quả thực nghiệm còn cho thấy khi sử dụng các loại máng héo này ở nhiệt độ luồng không khí nóng là 35 - 38°C, thời gian héo từ 6 giờ đến 8 giờ cho chất lượng bán thành phẩm cao nhất. Tỷ lệ chè héo đúng đạt 80,0 – 86,3%, chè héo dẻo, màu sắc lá chè xanh đen, trong khi sử dụng các loại máng héo cũ tỷ lệ chè héo đúng chỉ đạt khoảng 70%, chè héo kém đều, màu sắc lá chè thường là xanh vàng.

Có thể nói, bằng những cố gắng của mình, nhóm nghiên cứu thiết kế, chế tạo máng héo chè trong sản xuất chề đen chẳng những đã cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến vừa và nhỏ những cơ sở khoa học của việc thiết kế các loại máng héo mà còn cung cấp nhiều thông tin cần thiết cả về công nghệ lẫn thiết bị của công đoạn chế biến quan trọng này. Đây là một việc làm cần thiết không chỉ giúp cho các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất mà còn tạo điều kiện cải thiện và nâng cao chất lượng và uy tín của chè đen Việt Nam trên thị trường thế giới.

Các doanh nghiệp có nhu cầu tìm hiểu về thiết kế, chế tạo máng héo trong chế biến chè có thể liên hệ trực tiếp: Tiến sĩ Đỗ Văn Chương, chủ nhiệm nhóm nghiên cứu - điện thoại 0912.237.567 hoặc Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối, Bộ Nông nghiệp và PTNT, số 2 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội, điện thoại 04.7335785.

Bảng 1:

Các loại quạt hướng trục thông dụng trong công đoạn làm héo chè

TT

Số hiệu quạt

Đường kính (mm)

Lưu lượng không khí (m 3/giờ)

Công suất (kW)

Số vòng quay (v/ph)

I

Các loại quạt do Việt Nam sản xuất

1

AF- 060 -06 N°6

600

12 000

0,75

1460

2

AF -060 -08 –N°6

600

15 000

1,1

1460

3

AF -080 -02 N°8

800

20 000

1,1

960

4

AF -080 – 03 N°8

800

22 000

1,5

960

5

AF -100 -03 N°10

1 000

35 000

2,2

960

6

AF -100 -08 N°8

1 000

40 000

5,5

960

7

AF- 120 -08 N°12

1 200

52 000

7,5

960

II

Các loại quạt do Ấn Độ sản xuất

1

TA -0922

922

27 200

1,5

1 000

2

TA -1913

1013

34 000

2,2

1 000

3

TA -1055

1005

42 500

3,7

1 000

4

TA -1105

1105

51 000

3,7

1 000

5

TA -1203

1203

42 500

2,2

750

6

TA -1207

1207

57 800

5,5

1 000

7

TA -1407

1407

68 000

7,5

1 000

Bảng 2:

Một số loại máng héo chè thích hợp cho các doanh nghiệp chế biến vừa và nhỏ

Các thông số về quạt

Các thông số về máng héo

Số hiệu

Đường kính (m 3/giờ)

Lưu lượng không khí (m 3/giờ)

Công suất (kW)

Diện tích qui tròn (m 2)

Kích thước (m)

Chiều cao (m)

Chiều dài phễu gió

Dài

Rộng

Đầu máng

Cuối máng

F -060 -06 N°6

600

12 000

0,75

12

11

1,1

0,9

0,79

0,9

F -060 -08 N°6

F 080 -02 N°8

600

800

15 000

20 000

1,1

1,1

15

20

14

13

1,1

1,5

0,9

0,9

0,75

0,77

0,9

1,2

F -080 -03 N°8

800

22 000

1,5

22

15

1,5

0,9

0,75

1,2

F -080 03 N°10

1 000

35 000

2,2

35

20

1,8

0,9

0,70

1,5

F -100 -08 N°8

1 000

40 000

5,5

40

22

1,8

0,9

0,68

1,5

F -120-08 N°12

1 200

52 000

7,5

52

24

2,2

0,9

0,66

1,8

Nguồn: Khoa học và Đời sống, số 16 (1734), ngày 25/2/2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.