Thích ứng với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Theo số liệu đo đạc của Sở Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm môi trường nước trên sông Hậu đang là vấn đề cần đặt ra khẩn cấp. Trong thời gian 10 năm (từ 1999-2008) ; thông số COD có nồng độ trung bình trong nước mặt tăng từ khoảng 7mg/l lên 15mg/l, hơn gấp 2 lần; thông số Amoni (NH4 +-N) có giá trị từ 0,129 mg/l lên đến 0,742mg/l, tăng gần 6 lần; tổng Coliform luôn vượt mức (2.500MPN/100ml). . . Nhìn chung các thông số này đều vượt mức cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước mặt cột A1 QCVN 08:2008/BTNMT.
Đối với nước ngầm tầng sâu 80 đến 200m có các chỉ tiêu không nằm trong mức cho phép của QCVN 09:2008 gồm: Độ cứng, Clorua, Cohform và COD. Riêng sự hiện diện của chất hữu cơ (COD) và Co'liform trong nước ngầm, là một dấu hiệu nói lên hiện tượng thông tầng mà nguyên nhân là việc khoan khai thác và sử dụng nước ngầm không đúng qui định. Nếu không có biện pháp giải quyết có hiệu quả thì nước ngầm sẽ bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng.
Thiếu nước trong mùa khô là vấn đề lớn thứ hai gây khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất của ĐBSCL. Với hơn 1,5 triệu ha lúa đông xuân, chưa kể nhu cầu nước cho các cây trồng khác và sinh hoạt, nhu cầu nước cho lúa đã hơn 1500m 3/giây cho 3 tháng vụ mùa. Cùng thời gian này, là lúc nước sông Mêkông đổ về ĐBSCL ít nhất trong năm, lúc thấp nhất chỉ còn 1600m 3/giây. Điều này gây nhiều trở ngại cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, sinh hoạt và thâm chí làm thay đổi cả sinh thái ở một số
Địa phương trong vùng ĐBSCL, do xâm nhập mặn gia tăng
Vấn đề lớn thứ ba mà ĐBSCL phải đối mặt trực diện trong tương lai là vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH) nguyên nhân từ việc gia tăng phát thải khí Cacbonic (C0 2) của loài người. Các biểu hiện của BĐKH như sau:
Nhiệt độ tăng cao, theo PGS.TS. Trần Thục, Viện Khoa học KTTV và Môi trường thì, trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình năm đã tăng 0,5 0C và theo dự báo nhiệt độ trung bình của Nam bộ có thể tăng 2 0C vào năm 2100. Còn theo dự báo của Đại học Chulalongkom, Thái lan, vào cuối thế kỷ, số ngày có nhiệt độ cao nhất lớn hơn 35 0C có thể tăng lên 240 ngày/năm, thay vì hiện nay khoảng 100 ngày/năm.
Thời gian gần đây lượng mưa/năm có thay đổi bất thường, lượng mưa/năm tại Cần Thơ trong 10 năm có khuynh hướng giảm 200mm, nhất là mùa khô kéo dài, làm cho hạn hán gia tăng. Ngược lại lượng mưa nhiều hơn vào mùa mưa, lũ lớn đặc biệt sẽ xảy ra ở ĐBSCL. Hạn hán do BĐKH kết hợp với thiếu nước từ thượng nguồn làm cho tình hình xâm mặn thêm trầm trọng.
Ngập lụt sâu hơn ở khu vực trung tâm ĐBSCL và trong trường hợp tồi tệ có thể là ngập nước mặn. Tại Cần Thơ trong thời gian từ 1975-2009, mực nước cao nhất gia tăng gần 50cm, do nước biển dâng kết hợp thuỷ triều cao và gặp mưa lớn. Theo mô hình dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường nước biển có thể dâng lên 1m vào cuối thế kỷ 21. Ngoài việc nước biển dâng, độ ngập nước của khu vực ĐBSCL còn có sự kết hợp của: năng lượng gió Đông Bắc và lực Co-ri-o'lic từ xích đạo làm mực nước biển Đông dâng lên thêm vào là đỉnh lũ của sông Mê kông và lượng mưa nhiều tại chỗ với các yếu tố trên nhóm nghiên cứu của ĐH Chulalongkom xác định khi nước biển dâng 1m thì nước của ĐBSCL có thể ngập thêm 2m. Ngập sâu gây cản trở giao thông., hạn chế sinh hoạt của cộng đồng và làm gia tăng ô nhiễm môi trường, làm tăng số lượng bệnh do môi trường xuống cấp. Đặc biệt, với mức nước ngập 2m như dự báo thì toàn bộ diện tích đất của ĐBSCL bị ngập sâu, chỉ có rất ít người có thể định cư tại chỗ và có thu nhập từ các nghề của sông nước.
Xâm nhập mặn mùa khô có khuynh hướng gia tăng. Mùa khô 2004, theo hướng từ biển Đông, độ mặn 1%o trên sông Hậu còn cách Cần Thơ 12 km. Năm 2009, theo hướng biển Tây độ mặn lớn hơn 4 %0 đã vào đến huyện Vĩnh Thạnh khu vực giáp với tỉnh An Giang. Năm 2010, độ mặn 1%o, trên sông Hậu cách Cấn Thơ khoảng 8 km, và trên rạch Cái Sắn mặn tiếp tục vào huyện Vĩnh Thạnh.
Sạt lở bờ sông gây ảnh hưởng ngày càng nặng nề cho đời sống người dân, các năm trước đã xảy ra sạt lở bờ tại nhiều điểm ở ĐBSCL, đầu năm 2010 đã xuất hiện sạt lở bờ nặng nề trên đường nối huyện Phong Điền và quận Cái Răng của thành phố Cần Thơ và đoạn quốc lộ 91 thuộc tỉnh An Giang.
Bão thổi vào ĐBSCL có chiều hướng gia tăng, trước đây cứ 100 cơn bão hay áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào VN thi chỉ có 0,75 % thổi vào ĐBSCL trong 30 năm gần đây con số đó đã lên 2,85%.
Qua ba vấn đề ô nhiễm môi trường, thiếu nước vào mùa khô và BĐKH, thì ô nhiễm môi trường là vấn đề có tiềm năng gây hại nhanh chóng trước mắt, cần có ngay các biện pháp khắc phục có hiệu quả. Nguyên nhân của vấn đề ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm nước mặt chủ yếu là do các chất thải nhất là nước thải không được xử lý tốt trước khi đổ vào nguồn nước tiếp nhận. Với dân số của ĐBSCL trên 17.300.000 người, giá trị tổng GDP hơn 310 ngàn tỉ đồng và khoảng 930 ngàn ha nuôi thủy sản, hàng ngày có 1,7 triệu m 3nước thải sinh hoạt, khoảng 150 ngàn m 3nước thải công nghiệp chế biến và gần 400 tấn chất thải nuôi thủy sản, mà đa số không được xử lý triệt để trước khi đổ vào môi trường nước. Để khắc phục tình trạng ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt và công nghiệp chưa qua xử lý, cần có các hệ trạm xử lý nước thải kết hợp giữa dạng tập trung và phân tán làm sao phù hợp cho cả khu vực nội thị, ngoại ô và nông thôn. Đối với nước thải từ nuôi thủy sản, cần xây dựng và khuyến khích người nuôi tham gia vào các khu liên hiệp công nghiệp nuôi trồng, chế biến thủy sản tập trung, trong đó có công trình xử lý tái sử dụng nước thải từ ao nuôi cá, xứ lý bùn ao thành phân bón hữu cơ, xử lý nước thải chế biến trước khi thải ra môi trường địa phương.
Vấn đề thứ hai, thiếu nước mùa khô là vấn đề khá phức tạp và cũng sẽ phá huy tác hại trong tương lai không xa. Để giải quyết vấn đề này cần rất nhiều tư duy và biện pháp cả đối nội và đối ngoại; cả đơn ngành và liên ngành.. Trước mắt, có thể đề xuất biện pháp nghiên cứu xây dựng hồ chứa nước mặt kết hợp bảo tồn cá tự nhiên của sông Mê kông; hoặc là xử lý làm sạch nước mặt, nước mưa vào mùa nước nổi và bơm trữ vào tầng nước ngầm để cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất vào mùa khô. Biện pháp này thực hiện sau nhiều năm sẽ giúp cho chúng ta tăng cường được chất lượng nước trong tầng ngầm. Cả hái biện pháp này còn giúp chúng ta giảm bớt sử dụng nước mặt vào mùa khô và tăng nguồn nước tràn trên mặt để chống xâm nhập mặn.
Vấn đề BĐKH thì chưa gây hại ngay, nhưng có thể nói đây là vấn đề không thể đảo ngược và sẽ từng bước tiến đến gieo rắc tác hại cho dân cư của đồng bằng, vì nguồn gốc của BĐKH hôm nay đã có từ hàng chục năm trước và tác hại của nó kéo dài hàng chục năm thậm chí hàng trăm năm.
Làm sao để thích ứng với BĐKH? Và giải pháp nào là giải pháp mang tính không hối tiếc? Đó là những câu hỏi mang tính chiến lược, để trả lời cần rất nhiều công sức và tiền bạc cũng như chất xám cho nghiên cứu làm rõ và lựa chọn biện pháp phù hợp hiệu quả nhất. Theo nghiên cứu và thảo luận giữa các cán bộ quận, huyện và cán bộ các sở, ban ngành của nội bộ thành phố Cần Thơ, đã có gần 40 đề xuất. Dù có thể có nhiều đề nghị nhưng trước mắt có thể nhắc đến các ý kiến chủ đạo sau:
Về tổng thể, nếu ĐBSCL bị ngập sâu và ngập mặn thì sẽ rất khó cho dân cư trong vùng sống và sản xuất như cũ. Xin nhắc lại, vấn đề cần giải quyết là làm sao cho người dân có chỗ ở, có nguồn sống ổn định, có cuộc sống và hưởng thụ từ mức bình thường hiện nay trở lên, trong điều kiện mới là ngập sâu do nước biển dâng. Do đó, có 3 đề xuất chính cho việc bảo đảm cuộc sống cho hơn 17 triệu dân trong vùng là: Xây dựng đê bao biển và đê sông chống xâm nhập mặn có khả năng điều tiết nước, để đảm bảo cho dân cư sống tại chỗ với rất ít thay đổi; nâng nền khu dân cư cao hơn mức nước ngập cao nhất và chuyển đổi nghề nghiệp, cây trồng, vật nuôi, tạo nguồn sống mới ổn định cho tất cả dân cư của ĐBSCL; và cuối cùng là di dời toàn bộ dân cư đến vùng cao hơn như Tây nguyên, hay vùng đông Nam bộ. Cả 3 đề xuất này đều cần nhiều công sức, trí tuệ, tiền bạc và nhất là quĩ thời gian đủ lớn để lựa chọn giải pháp đúng nhất và để không hối tiếc, vì chúng ta sẽ có ít cơ hội và tiềm lực để chọn lựa theo kiểu thử sai và nhất là không thể thử sai với cuộc sống của hơn 17 triệu người. Ở mặt này, chúng tôi đề nghị có một nghiên cứu ở qui mô ĐBSCL để tính toán chi phí và lợi ích của 3 đề xuất trên theo phương pháp CBA của ngân hàng kinh tế môi trường. Kết quả của nghiên cứu này nhằm xác định đề xuất nào trong 3 đề xuất nói trên là có lợi nhiều nhất kể cả về khía cạnh kinh tế và khía cạnh môi trường, sinh thái và giúp cho sự lựa chọn mang tính không hối tiếc cao.
Một vấn đề khác mang tính chủ đạo không thể không nhắc đến trong công tác thích ứng BĐKH của ĐBSCL là vấn đề nhiệt độ tăng. Nhiệt độ tăng làm môi trường thay đổi nhiều mặt dẫn đến sự gia tăng một số bệnh có nguyên nhân từ môi trường không thuận lợi. Do đó cần có một nghiên cứu chuyên sâu nhằm xác định các loại bệnh và thương tổn gì sẽ xảy ra trong cộng đồng dân cư tìm ra biện pháp phòng chống phù hợp; xác định phác đồ điều trị tốt nhất; và xác định cho phòng trị bệnh trong điều kiện mới, BĐKH, sẽ là một nhu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nạy để có thể đi trước, đón đầu ứng phó nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất tác hại của BĐKH.
BĐKH là một thách thức lớn cho tương lai của ĐBSCL, tuy nhiên nó không chỉ mang lại khó khăn, nó còn mang lại thời cơ mới cho ĐBSCL với sự gia tăng số giờ chiếu sáng trong năm, nếu nghiên cứu cẩn thận để sử dụng điện mặt trời, chúng ta cũng có thể có nguồn năng lượng sạch khá lớn phục vụ cho cộng đồng. Thêm vào đó, nếu có đủ nguồn nước, có giống cây trồng và có biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp trong điều kiện mới, chúng ta sẽ có khả năng gia tăng sản lượng lương thực, thực phẩm và trái cây.
Trước các thách thức và cơ hội mới do BĐKH đem đến, chúng ta sẽ sống và thích ứng như thế nào, phát triển hay không tùy thuộc phần lớn vào hành động của chúng ta trong thời gian tới.








