Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 18/03/2011 19:10 (GMT+7)

Thị trường hoá hoạt động khoa học và công nghệ

“Công nghệ” nằm ở đâu trong chuỗi giá trị của Đổi mới-Sáng tạo?

Muốn cải tiến hệ thống khoa học và công nghệ, cần quan sát, phân tích chuỗi giá trị của hệ thống đó.

Ở các nhà nước với nền kế hoạch hóa tập trung, nhà nước là tác nhân chính (hay duy nhất) trong khoa học-công nghệ. Để thực hiện nhiệm vụ, khoa học-công nghệ được sắp xếp liên tục, “công đoạn” khoa học rồi đến “công đoạn” công nghệ, nối tiếp nhau theo  một “quy trình” tuyến tính (xem hình 1).

Trong đó, sản phẩm (output) của khoa học là “nguyên vật liệu” (input) của công đoạn công nghệ. Hai công đoạn này cân đối, ăn khớp với nhau vềthời gian, khối lượng..., ví dụ: bao nhiêu người, đề tài nghiên cứu thì sẽ làm ra bao nhiêu kết quả nghiên cứu, với thời hạn bao lâu, các kết quả nghiên cứu cơ bản này được chuyển tiếp qua nghiên cứuứng dụng, rồi tiếp đến sản xuất thử, v.v. Cơ chế này không có các biện pháp (hay không khuyến khích) để thúc đẩy trao đổi-mua bán các “bán thành phẩm” khoa học-công nghệ (tức là các kết quả nghiêncứu hay sự thành lập công ty từ các nhà

Đặc trưng của mô hình KH-CN tuyến tính hay mô hình “đóng” là “công-nghệ” và “khoa học” như nằm trong một cái ống kín và “công nghệ” gắn chặt vào “khoa học”. Vì lấy nguyên liệu từ đầu ra của khoa học, nên khối lượng sản phẩm của công nghệ thường bằng hay không mấy lớn hơn khối lượng các kết quả nghiên cứu khoa học.

khoa học-công nghệ, viện nghiên cứu, spin-off). Cơ chế này cũng rất ít khi nhận input từ bên ngoài vào (tức là mua các bí quyết, sở hữu trí tuệ, vv ở bên ngoài để tiếp tục hoàn thiện rồi bán ra thị truờng). Như vậy, “công-nghệ” và “khoa học” như nằm trong một cái ống kín và “công nghệ” gắn chặt vào “khoa học”. Vì lấy nguyên liệu từ đầu ra của khoa học, nên khối lượng sản phẩm của công nghệ thường bằng hay không mấy lớn hơn khối lượng các kết quả nghiên cứu khoa học. Đặc trưng của mô hình này là: Công nghệ được khởi tạo chủ yếu từ Khoa học. Đây là mô hình khoa học-công nghệ tuyến tính, hay mô hình “đóng” đặc trưng của các nền kinh tế dựa trên kế hoạch hóa tập trung.

Công nghệ gắn với doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, “Công nghệ” gắn liền với nơi sản sinh lợi nhuận, tức là doanh nghiệp và thị trường. Ngoài ra, Công nghệ ngày càng gắn trực tiếp với người tiêu dùng vì doanh nghiệp nhắm vào người mua để có lợi nhuận. Ở mô hình này, thị trường “len lỏi” vào bất kỳ một đoạn nào của “cái ống” khoa học-công nghệ để lấy ra sản phẩm từ đó và bán sản phẩm vào đó. Cái ống đó không còn “đóng kín” nữa mà hoàn toàn “mở”. Có thể nhà khoa học chưa có ý định gì cho kết quả nghiên cứu của mình, nhưng những nhà ứng dụng công nghệ (technology adopter), nhà kinh doanh (do nắm bắt tốt thị hiếu tiêu dùng) đã mua nó để tiếp tục “chế” ra những công nghệ mà người tiêu dùng mong đợi. “Công nghệ” vô cùng biến động, khó lường và có khối lượng lớn hơn nhiều so với so ở với mô hình tuyến tính (xem hình 2).

Với cơ chế mở, “nguyên liệu” của “công nghệ” không chỉ là sản phẩm của khoa học nước nhà mà là kho tàng khổng lồ các bản quyền, sở hữu trítuệ, đặc biệt từ các công nghệ chưa hoàn thiện (immature technologies), các tri thức nguồn mở, các bản quyền miễn phí do đã hết hạn, của khoa học thế giới. Rất nhiều nhà ứng dụng công nghệ khai thác“nguyên liệu” ngay ở những giai đoạn (tưởng như) chưa hoàn thiện, “lai ghép” các công nghệ để tạo ra cái mới, bán ra thị trường. Nhiều nhà khoa học, viện nghiên cứu mở công ty kinh doanh khoahọc-công nghệ vì họ có tính sáng tạo-đổi mới cao, tức là biết cách từ một kết quả nghiên cứu để làm ra sản phẩm nhiều người mua.

Trong nền kinh tế thị trường, cái ống KH&CN đó không còn “đóng kín” nữa mà hoàn toàn “mở”. “Nguyên liệu” của “công nghệ” không chỉ là sản phẩm của khoa học nước nhà mà là kho tàng khổng lồ các bản quyền, sở hữu trí tuệ, đặc biệt từ các công nghệ chưa hoàn thiện (immature technologies), các tri thức nguồn mở, các bản quyền miễn phí do đã hết hạn, của khoa học thế giới.

Đặc trưng của mô hình này là: Công nghệ được khởi tạo từ Doanh nghiệp + Thị trường. Chuỗi giá trị được “cắt’ ra rất nhiều các đoạn lẻ, đan xen nhau. Ở đó, các input được đưa “chen ngang” vào (không nhiết thiết từ công đoạn trước) và nhiều kiến thức được đưa ngay ra thương mại hóa (không nhất thiết được chuyển tiếp xuống công đoạn tiếp theo). Toàn bộ quá trình trở nên “phi tuyến tính” và rất “mở”. Một điểm lý thú và có ý nghĩa đột phá về kinh tế của mô hình mở là: nhà ứng dụng công nghệ đặt hàng cho nhà khoa học (khác với mô hình tuyến tính là: nhà nước đặt hàng). Quan trọng hơn, khoa học cơ bản phía thượng nguồn (thường phải sống bằng nhà nước ở mô hình tuyến tính) nhận được đặt hàng, tài trợ từ các công đoạn hạ nguồn và từ doanh nghiệp bên ngoài. Quá trình này không còn là một đường tuyến tính, một chiều mà là một chu trình khép kín, đa chiều. Điều này làm cho hệ thống có thể tự chủ về tài chính, gắn kết hữu cơ vào thị trường và người tiêu dùng. Khoa học-Công nghệ lúc này hoà lẫn, gắn chặt vào mọi ngành kinh tế và xã hội. Đây là điểm khác cơ bản giữa Hệ thống Đổi mới-Sáng tạo (Innovation) với “Khoa học-Công nghệ” (Science-Technology). Thuật ngữ “Khoa học và Công nghệ” chưa nhấn mạnh đến Thị trường và Doanh nghiệp. Ngoài ra, nó vẫn gắn chặt “Công-nghệ” vào “Khoa-học”. Vì vậy, để thị trường hoá cần phải xóa bỏ sự “cưỡng hôn” giữa Khoa-học và Công-nghệ. Thuật ngữ miêu tả sát nhất quá trình này là “Đổi mới-Sáng tạo mở” (Open Innovation).

Đề xuất

Thị trường công nghệ chủ yếu gồm hai phần. Một là nơi sản xuất ra công nghệ (ví dụ: máy móc, thiết bị, phần mềm, v.v); Hai là nơi sử dụng công nghệ để sản xuất ra các sản phẩm hay để hoạt động, kinh doanh. 

Đối với cơ quan quản lý về Đổi mới-Sáng tạo, cần giảm thiểu các hoạt động khoa học-công nghệ của các viện nghiên cứu thuộc Nhà nước Trung ương. Thay vào đó, đưa hoạt động “Công nghệ” vào Doanh nghiệp và đưa hoạt động “Khoa học” (ví dụ nghiên cứu cơ bản) vào các trường đại học (trở thành các đại học nghiên cứu, research university).

Đối với nhóm một, cần đào tạo cho doanh nghiệp, người làm công nghệ về kỹ năng kinh doanh với các sản phẩm trung gian của khoa học-công nghệ như bản quyền, sở hữu trí tuệ, đặc biệt từ các công nghệ chưa hoàn thiện (immature technologies), các tri thức nguồn mở, các bản quyền miễn phí do đã hết hạn, v.v. Chủ yếu là kỹ năng nắm bắt nhu cầu thị trường để sáng tạo, làm ra các máy móc, công nghệ dựa trên các sản phẩm trung gian nói trên. Tăng cường đào tạo kỹ năng thiết kế “ngược” (reverse engineering), tức là truy “ngược” từ sản phẩm cần có ra các “đầu vào” cần thiết. Tăng cường sự hợp tác, gặp gỡ, trao đổi giữa người làm nghiên cứu cơ bản với các người làm công nghệ (tốt nhất là thông qua các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ). Chuyển hoạt động chủ yếu nghiên cứu của các viện sang hoạt động đổi mới-kinh doanh công nghệ. Khuyến khích làm thuê khoán ngoài về khâu thiết kế hay phát triển (đoạn cuối của nghiên cứu-phát triển) cho nước ngoài để học hỏi. Nghiên cứu tỷ mỷ nhu cầu thị trường để tăng cường nội địa hoá, thích ứng hoá (adaptation) cho công nghệ ngoại nhập. 

Đối với nhóm hai, cần đào tạo kỹ năng, hiểu biết về công nghệ, quản lý công nghệ cho doanh nghiệp. Giúp doanh nghiệp biết được công nghệ mình đang dùng đứng ở vị trí nào trong tổng thể các công nghệ để làm ra sản phẩm tương tự, cách tự lập ra Lộ Trình Công Nghệ (technology map) cho mình, tính toán khi đầu tư công nghệ, cách đầu tư vào công nghệ để hội nhập chuỗi giá trị cao hơn hay chuỗi cung ứng quốc tế, v.v.

Đối với cơ quan quản lý về Đổi mới-Sáng tạo, cần giảm thiểu các hoạt động khoa học-công nghệ của các viện nghiên cứu thuộc nhà nước trung ương. Thay vào đó, đưa hoạt động “Công nghệ” vào Doanh nghiệp và đưa hoạt động “Khoa học” (ví dụ nghiên cứu cơ bản) vào các trường đại học (trở thành các đại học nghiên cứu, research university). Bên cạnh đó, mở rộng hoạt động của các phòng, trung tâm nghiên cứu-ứng dụng trong các trường đại học này để nắm bắt, thị trường hoá nhanh nhất các kết quả nghiên cứu. Các tổ chức này, khi hợp tác chặt chẽ với nhóm một ở  phần trên, sẽ tự nó tạo các khu công nghệ, dẫn tới một mạng lưới các chùm công nghệ (technology cluster) hay chùm đổi mới-sáng tạo (innovative cluster).

Đặc trưng của mô hình KH-CN tuyến tính hay mô hình “đóng” là “công-nghệ” và “khoa học” như nằm trong một cái ống kín và “công nghệ” gắn chặt vào “khoa học”. Vì lấy nguyên liệu từ đầu ra của khoa học, nên khối lượng sản phẩm của công nghệ thường bằng hay không mấy lớn hơn khối lượng các kết quả nghiên cứu khoa học.

Thuật ngữ “Khoa học và Công nghệ” chưa nhấn mạnh đến Thị trường và Doanh nghiệp. Ngoài ra, nó vẫn gắn chặt “Công-nghệ” vào “Khoa-học”. Vì vậy, để thị trường hoá cần phải xóa bỏ sự “cưỡng hôn” giữa Khoa-học và Công-nghệ. Thuật ngữ miêu tả sát nhất quá trình này là “Đổi mới-Sáng tạo mở” (Open Innovation).

Trong nền kinh tế thị trường, cái ống KH&CN đó không còn “đóng kín” nữa mà hoàn toàn “mở”. “Nguyên liệu” của “công nghệ” không chỉ là sản phẩm của khoa học nước nhà mà là kho tàng khổng lồ các bản quyền, sở hữu trí tuệ, đặc biệt từ các công nghệ chưa hoàn thiện (immature technologies), các tri thức nguồn mở, các bản quyền miễn phí do đã hết hạn, của khoa học thế giới.

Thuật ngữ “Khoa học và công Nghệ” chưa nhấn mạnh đến Thị trường và Doanh nghiệp. Ngoài ra, nó vẫn gắn chặt “Công-nghệ” vào “Khoa-học”. Vì vậy, để thị trường hoá cần phải xóa bỏ sự “cưỡng hôn” giữa Khoa học và Công nghệ. Thuật ngữ miêu tả sát nhất quá trình này là “Đổi mới-Sáng tạo mở” (Open Innovation).

Đối với cơ quan quản lý về Đổi mới-Sáng tạo, cần giảm thiểu các hoạt động khoa học-công nghệ của các viện nghiên cứu thuộc nhà nước trung ương. Thay vào đó, đưa hoạt động “Công nghệ” vào Doanh nghiệp và đưa hoạt động “Khoa học” (ví dụ nghiên cứu cơ bản) vào các trường đại học (trở thành các đại học nghiên cứu, research university).

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.