Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 23/04/2008 19:50 (GMT+7)

Thép phế, nguồn nguyên liệu quan trọng của ngành công nghiệp thép

1. Tổng quan về nguyên liệu của ngành thép

Năm 2007 sản lượng thép của toàn thế giới dự báo sẽ vượt 1,2 tỷ tấn. Sản lượng thép đã tăng ở hầu hết các châu lục và đặc biệt là Trung Quốc, với sản lượng thép thô sản xuất gần 500 triệu tấn (hơn 40% sản lượng thép thế giới). Số lượng thép nêu ở trên được sản xuất chủ yếu bằng hai công nghệ là:

- Lò cao - lò thổi oxy dùng quặng sắt làm nguyên liệu, chiếm»70%

- Lò điện sử dụng thép phế làm nguyên liệu chiếm»30%.

Nguồn quặng sắt cung cấp cho luyện thép chủ yếu từ ba nước là Úc, Braxin, Ấn Độ (khoảng 75% sản lượng quặng thế giới). Do tính phụ thuộc nguồn tài nguyên quá lớn vào một số ít nước và nhiều nguyên nhân khác nên giá quặng sắt đã không ngừng tăng. Giá quặng sắt hiện nay, so với giá quặng năm 2005 đã tăng gấp ba lần, và dự kiến năm 2008 giá quặng sẽ còn tăng thêm 30% so với năm 2007. Do giá quặng sắt cao, nên việc sử dụng thép phế để luyện thép trong lò điện trở nên vô cùng quan trọng, nó vừa có ý nghĩa làm sạch môi trường, tái sinh lại kim loại đã qua sử dụng, vừa có ý nghĩa kinh tế to lớn. Tất cả các nước trên thế giới đều coi thép đã qua sử dụng là nguồn nguyên liệu cho luyện thép chứ không phải là phế thải.Trong nguyên luyện thép phế (95 – 97%) là sắt (Fe), chỉ có (3 - 5%) là tạp chất lẫn vào, nếu các tạp chất đó, không phải là chất nổ, phóng xạ, hoá chất độc hại, thì thép phế là loại nguyên liệu “sạch”, khi cho vào lò điện hồ quang có nhiệt độ (1600 - 1700) 0C, mọi chất tạp sẽ chảy hoặc hoá khí và các thiết bị xử lý trong công nghệ luyện thép sẽ đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn môi trường.

Nếu luyện thép sử dụng nguyên liệu quặng sắt thì quặng chỉ có (50 - 60)% là Fe, còn lại là tạp chất, phải dùng than cốc và các chất trợ dung để nấu chảy thì quá trình đó sẽ thải ra đủ các chất thải rắn (xỉ, bụi), chất thải lỏng (xỉ), chất thải khí (CO x, NO x, SO x...) và công nghệ luyện kim sẽ bắt buộc phải xử lý rất tốn kém mởi bảo đảm các tiêu chuẩn môi trường.

Vì lí do nói trên, việc thu hồi phân loại thép đã qua sử dụng để nấu lại đã trở thành chính sách tiết kiệm, trở thành tập quán ở tất cả các nước có nền kinh tế phát triển.

2. Nguyên liệu thép phế ở Việt Nam

Những năm trước đây, khi kinh tế Việt Nam chưa phát triển, ngành luyện thép Việt Nam chủ yếu nhập phôi để cán thép, gây sự mất cân đối giữa việc sản xuất phôi (thượng nguồn) và cán thép thành phẩm (hạ nguồn). Lượng phôi thép nhập khẩu chiếm (70 - 80)% nhu cầu phôi thép của cả nước.

Từ sau năm 2000, các công ty luyện thép đã đầu tư cho sản xuất phôi, chủ yếu là xây dựng lò điện hồ quang, sử dụng phế thép thu mua trong nước và nhập khẩu làm nguyên luyện. Do nguồn thép phế trong nước rất hạn chế (chỉ thu mua được khoảng 1 triệu tấn/ năm) nên số lượng nhập khẩu thép phế ngày một tăng.

Năm 2007: Tổng sản lượng phôi thép nhập khẩu là (2,1 - 2,2) triệu tấn. Tổng số lượng phôi thép phế nhập khẩu khoảng 1,1 triệu tấn.

Lượng phôi thép sản xuất trong nước sẽ tăng cao trong những năm tới, vì hiện đang có nhiều dự án xây dựng lò điện đã khởi công và dự kiến đi vào sản xuất cuối năm 2008 hoặc 2009 như lò điện của các Cty Thép Vạn Lợi, Việt Ý, Hưng Tài, Thép Việt... đưa công suất sản xuất phôi thép bằng lò điện hồ quan tăng thêm (1,5 - 2) triệu tấn.

Với tốc độ tăng trưởng cao như vậy, lượng thép phế nhập khẩu năm 2008 sẽ khoản (1,5 - 1,7) triệu tấn, năm 2009 sẽ phải nhập (2,2 - 2,5) triệu tấn.

Theo phân loại quốc tế, những loại thép phế loại nặng hoặc đã cắt, xẻ, sẽ có giá cao, các loại mỏng nhẹ như đồ hộp, phoi bào, phoi tiện... sẽ được ép thành bánh (chiếm 30 - 35%) có giá hạ hơn. Vì là thép đã qua sử dụng và thu hồi ép bánh nên việc lẫn một số tạp chất là không tránh khỏi vì không có nước nào lại rửa sạch lon đồ hộp trước khi ép bánh. Ngành luyện thép sẽ phải phối hợp với các loại nguyên liệu phế thép này, để đảm bảo giá thành phôi thép có tính cạnh tranh, không thể chỉ dùng một loại thép phế tốt vì giá rất đắt.

Với tổng số thép tiêu thụ ở Việt Nam năm 2007 đã đạt con số (9,6 - 9,7) triệu tấn, trong đó sản phẩm thép xây dựng (thép thanh, cuộn, hình) đạt (4,5 - 4,6) triệu tấn đã làm cho nhu cầu về phôi thép tăng lên nhanh chóng. Giá phôi thép nhập khẩu do tác động của nhiều yếu tố kinh tế đã tăng liên tục. Giá bình quân phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam năm 2006 là 389 USD/T thì cuối năm 2007 đã là 600 USD/T. Hiện tại giá phôi Trung Quốc nhập vào Việt Nam đã lên đến (630 - 650) USG/T CFR. Giá phôi thép càng cao thì việc luyện phôi từ phế thép càng trở nên cấp thiết. Ở Việt Nam việc xây dựng các Liên hợp luyện kim đi từ quặng sắt, với số vốn đầu tư (4 - 5) tỷ USD cho mỗi Liên hợp sẽ còn cần thời gian (3 - 5) năm nữa. Các lò điện luyện thép từ thép phế sẽ có vai trò quan trọng để Việt Nam bớt đi sự phụ thuộc vào phôi thép nhập khẩu, góp phần giảm giá và bình ổn thị trường thép trong nước.

3. Những mắc mứu mà ngành thép Việt Nam đang kiến nghị giải quyết

Sau khi có Thông tư hướng dẫn về thi hành Luật Môi trường, các công ty sản xuất phôi thép và các công ty thương mại đã nhập thép phế vào Việt Nam để sản xuất phôi ở các cơ sở có điều kiện xử lý phế liệu là các công ty luyện thép lò điện như quy định.

Những tháng cuối năm 2007, nhu cầu thép trong nước tăng cao vì là mùa xây dựng, các cơ sở lò điện sản xuất hết công suất để đáp ứng nhu cầu phôi thép của các nhà máy cán. Việc nhập khẩu phôi đang gặp khó khăn, do giá phôi tăng quá cao và chính sách của Trung Quốc hạn chế xuất khẩu phôi.

Hiệp hội Thép đã nhận được công văn của một số công ty phản ánh họ đang gặp ách tắc do việc nhập khẩu phế liệu (là thép mỏng và các loại đồ hộp thu hồi, được đóng thành bánh và được chứa trong các container mà lâu nay các công ty đã nhập khẩu và sản xuất có hiệu quả) bị giữ lại ở cảng Hải Phòng và cảng Tp. Hồ Chí Minh với số lượng gần 200 container, trên 6.600 tấn phế thép. Thời gian lưu giữ hơn 3 tháng, vì không được phép thông quan. Cảnh sát môi trường và Sở Tài nguyên – môi trường ở địa phương yêu cầu tái xuất và phạt hành chính, vì cho rằng việc nhập lô thép phế này đã vi phạm Điều 43 Luật Môi trường, “do có tình trạng rỉ nước, có mùi hôi”... trong khi chứng thư giám định của Vinacontrol thì kết luận có thể nhập vì “hàng không có khả năng gây ô nhiễm môi trường, không phải là chất thải nguy hại”, “hàng đã được xử lý để làm nguyên liệu, nhưng chưa làm sạch hoàn toàn”... còn lẫn một ít tạp chất “với một tỷ lệ nhỏ”.

Việc tái xuất là rất khó khăn, việc lưu giữ ở cảng quá lâu đã gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp vì phải trả tiền lưu kho, tiền thuê và phạt về container thuê kéo dài hơn 3 tháng và không biết đến khi nào mới được giải quyết. Trong khi đó, các lò luyện thép đang rất cần nguyên liệu.

Trước tình hình này, Hiệp hội Thép Việt Nam đã có công văn số 76/HHTVN ngày 13/11/2007 gửi Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Tổng Cục Hải quan kiến nghị giải quyết theo hướng:

- Cho thông quan lô thép nêu trên để đưa vào lò luyện thép giải quyết kịp thời khó khăn của doanh nghiệp.

- Sau đó tổ chức cuộc họp thống nhất các quy định cụ thể đối với việc nhập khẩu loại nguyên liệu ép bánh này.

Ngày 16/11/2007, Hiệp hội Thép Việt Nam cũng đã gửi công văn báo cáo sự việc trên với Văn phòng Chính phủ.

Ngày 22/11/2007, Bộ Công thương đã trả lời đồng ý với đề nghị của Hiệp hội Thép và kiến nghị Bộ Tài nguyên & Môi trường và Tổng cục Hải quan giải quyết sớm.

Nhưng tới nay, kiến nghị của các doanh nghiệp vẫn chưa được giải quyết. Đây là một khó khăn lớn đối với doanh nghiệp nhập khẩu các lô hàng trên, nhưng đồng thời cũng là khó khăn lâu dài cho ngành thép Việt Nam trong thời gian tới, khi ngành thép lò điện đang được đầu tư phát triển mạnh mẽ và đang rất cần các loại thép phế nhập khẩu.

Trong cuộc hội thảo về chuyên đề thép phế do Hiệp hội Thép Việt Nam tổ chức ngày 17/12/2007 đông đảo các chuyên gia luyện thép và các giám đốc công ty nhập khẩu đã giải trình chi tiết các vấn đề về công nghệ luyện thép phế của các nước sử dụng thép phế để luyện thép, với mong muốn các nhà quản lý Việt Nam hiểu rõ vai trò quan trọng của thép phế để có giải pháp kịp thời, thích ứng với thông lệ quốc tế, coi thép phế là nguồn nguyên liệu quan trọng, không thể thiếu được trong công nghiệp luyện thép.

Nguồn: KH&CN Kim loại, số 16, 2 - 2008, tr 3

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.