Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 08/10/2013 22:23 (GMT+7)

Thêm một bài học về sự đánh đổi đất rừng sang trồng cao su

Diện tích tăng chóng mặt

Đến hết năm 2012, tổng diện tích cây cao su trong cả nước đạt 915.000ha và vẫn đang được mở rộng. Hiện, Việt Nam đã trở thành 1 trong 5 quốc gia có diện tích cao su lớn nhất trên thế giới. Năm 2012, sản lượng mủ cao su xuất khẩu đạt 1,02 triệu tấn, đạt kim ngạch 2,85 tỷ USD, tăng khoảng 25% về khối lượng và 11,7% về giá trị XK so với năm 2011.

Hiệu quả kinh tế từ cây cao su đương nhiên đã được khẳng định, có lẽ vì vậy mà theo GS.TSKH Nguyễn Văn Lung, Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng (SFMI), chỉ dựa vào vài dòng về cây cao su trong Thông báo số 125/TB-VPCP ngày 14/08/2006 của Văn phòng Chính phủ thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên cho phép trồng 90.000 – 100.000ha cao su trên diện tích đất trống đồi trọc, đất rừng nghèo kiệt, đất trồng cà phê kém hiệu quả mà sau đó phong trào chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su tăng chóng mặt ở nhiều địa phương. Tính đến năm 2012, toàn miền Bắc đã có 23.050ha cao su, khu vực miền Trung có 132.700ha, Tây Nguyên 243.290ha, Đông Nam Bộ có 511.460ha, số diện tích này đã vượt quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 theo Quyết định số 750/QĐ-TTg ngày 03/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ (theo quy hoạch diện tích cao su cả nước đến năm 2015 đạt 800.000ha, nhưng hiện nay đã đạt 915.000ha). Sự phát triển ồ ạt, không theo quy hoạch, bất chấp những tác động đến môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học còn thể hiện ở việc nhiều tỉnh lập kế hoạch trồng cao su vô tội vạ. Đơn cử như chỉ trên địa bàn xã Ia Pút (Gia Lai) có tới 9 dự án trồng cao su của các doanh nghiệp, trong đó có nhiều dự án khủng của Tập đoàn Quốc Cường (1.035ha), Hoàng Anh Gia Lai (1.125ha),… Trên địa bàn xã Ia Blư (Gia Lai) cũng có 6 dự án (Hoàng Anh Gia Lai xin trồng 938ha cao su, Công ty 194 trồng 998ha…). Thậm chí, ở nhiều địa phương, dù nhiều diện tích đất không phù hợp với cây cao su cũng được quy hoạch phát triển. Theo ông Huỳnh Quốc Thích, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đắk Lắk, trong số hơn 635.000ha đất được khảo sát để trồng cao su, có tới 74% diện tích không phù hợp cho loại cây này phát triển. Tuy nhiên, đến nay, Đắk Lắk cũng đã phát triển được hơn 32.000ha cao su.

Tại các tỉnh Tây Bắc, diện tích rừng cao su bắt đầu tăng đột biến từ năm 2008. Nếu như đến hết năm 2007, diện tích cao su của 3 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La mới đạt 70ha thì đến năm 2008 đã tăng vọt lên gần 3.600ha, trong đó Sơn La là tỉnh có diện tích tăng nhanh nhất, chiếm 60% diện tích của cả ba tỉnh.

GS.TSKH Nguyễn Văn Lung cho rằng, trong sự phát triển ồ ạt diện tích rừng cao su ở các địa phương dẫn đến phá vỡ quy hoạch, ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng tự nhiên hiện nay, có trách nhiệm của các ngành chức năng khi quá bị động trong việc đưa ra những định hướng, giải pháp phát triển cho các địa phương. Theo GS. Lung, sự bị động, lúng túng ấy thể hiện ở chỗ, chỉ trong 3 năm, ngành lâm nghiệp phải ra tới 9 văn bản pháp quy, trong đó có tới 6 thông tư điều chỉnh lẫn nhau, chồng chéo lên nhau. Và một câu chuyện GS.Lung đưa ra tại hội thảo khoa học: “Chuyển đổi rừng sang trồng cao su, cơ hội và thách thức” cũng sẽ khiến nhiều người suy ngẫm về cái được và mất trong việc chạy đua phát triển cao su bằng mọi giá. Theo báo cáo đánh giá tác động của dự án trồng hơn 900ha cao su của một doanh nghiệp trên địa bàn Tây Nguyên, số lượng gỗ mất đi nhường lại cho cây cao su phát triển lên tới hơn 50.000m3. Nếu nhân với số diện tích cao su mới trồng ở các địa phương trong vài năm gần đây sẽ thấy diện tích rừng bị chuyển đổi sang trồng cao su lớn đến độ nào.

Những hệ lụy

Và như một hệ lụy tất yếu, diện tích cao su tăng sẽ ảnh hưởng đến tài nguyên rừng. Con số thống kê của 5 tỉnh Tây Nguyên cho thấy, có khoảng 79% diện tích được mở rộng trồng cao su là diện tích rừng tự nhiên chuyển đổi và không phải toàn bộ diện tích này đều là rừng nghèo kiệt; 397.879m3 là số gỗ tận thu từ hơn 70.000ha rừng tự nhiên được chính quyền các tỉnh Tây Nguyên cấp cho hơn 200 dự án phát triển cao su đến năm 2012. Tuy nhiên, con số gỗ tận thu thực tế có thể còn lớn hơn nhiều. Đơn cử như ở Gia Lai, ông Nguyễn Ngọc Rân, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cho biết, trong 65.000ha diện tích quy hoạch để trồng cao su cho phép 5 doanh nghiệp khảo sát triển khai có đến 51.000ha là đất có rừng, diện tích đất trống đồi trọc, đất nghèo kiệt vô cùng ít.

Trong báo cáo: “Phát triển cao su và bảo vệ rừng ở Việt Nam”, tác giả Tô Xuân Phúc và Trần Hữu Nghị nhấn mạnh: Con số 79% diện tích cao su được mở rộng trong thời gian qua có nguồn gốc từ đất rừng tự nhiên là con số đáng để tất cả những ai quan tâm đến việc bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên rừng phải quan tâm. Nó không đơn thuần phản ánh việc một diện tích rừng bị mất do phát triển cao su mà con chỉ ra thực trạng lỏng lẻo trong việc thực hiện chính sách tại cấp địa phương. Quy hoạch trồng cao su của quốc gia bị phá vỡ, với hàng trăm hecta rừng tự nhiên bị chuyển đổi cũng cho thấy việc kiểm tra giám sát quá trình thực hiện việc chuyển đổi từ đất lâm nghiệp sang đất trồng cao su kể cả ở cấp quốc gia và địa phương chưa chặt chẽ.

Dưới một góc nhìn khác, ông Vũ Tấn Phương, Trưởng ban Đào tạo và Hợp tác quốc tế, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã chỉ ra những tác động của việc chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su, đặc biệt là vấn đề môi trường. Khảo sát cho thấy, ở rừng trồng cao su, lượng đất bị xói mòn lên tới 5,75 tấn/ha/năm, trong khi rừng tự nhiên tàn che 0,7 – 0,8 ở Gia Lai chỉ là 1,28 tấn/ha/năm, rừng tự nhiên tàn che 0,7 – 0,8 ở Lạng Sơn là 0,23 tấn/ha/năm; ngay cả rừng nghèo kiệt thì mức độ xói mòn đất cũng thấp hơn rừng cao su khi chỉ có 3,4 tấn/ha/năm. Rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên có tác dụng to lớn trong điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, điều này không thể có với rừng cao su. Đáng chú ý là dinh dưỡng đất trong rừng cao su giảm đáng kể sau 40 năm, lên tới 48 – 64%. “Có một thực tế là nhiều địa phương không quan tâm đến vấn đề diện tích đất rừng chuyển đổi có phù hợp với cây cao su hay không. Điều này là vô cùng nguy hiểm vì có những giá trị từ rừng tự nhiên không thể lượng hóa hết được, nếu phát triển cao su bằng mọi giá, có thể chúng ta phải trả một cái giá quá đắt bởi nếu trồng cao su không hiệu quả, chúng ta cũng không thể phục hồi lại diện tích rừng tự nhiên đã mất”, ông Phương nói.

Đến nay, vẫn còn nhiều hoài nghi về lợi ích kinh tế tiềm năng mà cao su có thể mang lại, đặc biệt là đối với những diện tích ở nơi có điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng không phải là tối ưu đối với việc phát triển cao su (ví dụ như vùng Tây Bắc, do các diện tích cao su mở rộng trong những năm gần đây chưa đến tuổi khai thác, giá trị kinh tế mà cao su đem lại vẫn chưa có gì đảm bảo). Bên cạnh đó, tại một số địa bàn vùng Tây Bắc, mở rộng diện tích cao su trên nền đất canh tác của hộ gia đình làm mất đi nguồn sinh kế của họ, điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực của địa phương. Thu hẹp diện tích canh tác do mở rộng diện tích cao su đã, đang và sẽ tiếp tục làm gia tăng sức ép lên nguồn tài nguyên rừng.

Phát triển cao su ồ ạt cũng tiềm ẩn rủi ro về thị trường. Giá xuất khẩu mủ cao su năm 2013 tụt giảm 50% so với mức giá năm 2012 làm những hộ trồng cao su rơi vào tình trạng thua lỗ do giá bán thấp hơn chi phí. Về vấn đề này, GS.TSKH Nguyễn Văn Lung cũng khẳng định: “Thị trường không tốt đẹp như chúng ta đang nghĩ, vì vậy chỉ nên phát triển ở những nơi phù hợp” và “không nên bơi ngược dòng quốc tế: phá rừng tự nhiên để trồng bất kỳ loại cây nào”.

Từ thực tế phát triển ở địa phương, ông Phạm Đức Hiển, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Điện Biên cho rằng: “Chủ trương phát triển cây cao su của Chính phủ là đúng nhưng các địa phương lại thực hiện chưa nghiêm túc, dẫn đến phá vỡ quy hoạch, điều này có một phần trách nhiệm của ngành chức năng. Tôi cho rằng, muốn giữ được rừng thì phải đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân, chỉ được phép trồng cao su ở những nơi phù hợp, trong quá trình cây chưa khép tán có thể áp dụng mô hình trồng xen với các loại cây khác để đảm bảo thu nhập cho người dân; trồng rừng phải gắn với chế biến”.

GS.TSKH Nguyễn Văn Lung cho rằng, qua việc trồng cao su, chúng ta đã có thêm một bài học về sự đánh đổi giữa hiệu quả kinh tế trước mắt với gìn giữ tài nguyên môi trường. Những hệ lụy có thể chưa thấy trước mắt nhưng những gì thống kê được, những con số có thể nhìn thấy sẽ là động lực để các cơ quan chức năng và địa phương tìm hướng phát triển bền vững cho loại cây đa mục đích này.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.