Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 20/12/2006 17:30 (GMT+7)

Thế giới vô cùng: Vạn vật giai không

Rừng, đầm, hồ, sông ngòi nhiều, khí hậu nhiệt đới ẩm quay vòng thuận hòa làm cho người Việt thích sống trong những căn nhà thấp tối, ấm về mùa đông, mát về mùa hạn, tránh gió thẳng, và ưa dùng các vật liệu thiên nhiên có tính hút ẩm. Nhà sàn, nhà gỗ vì kèo, nhà trình tường, nhà gạch mộc, nhà vách đất, nhà tre đều đảm bảo yêu cầu môi sinh này. Vật liệu có thể thay đổi, giầu nghèo, sang hèn khác nhau, nhưng quy cách tổ chức không gian thống nhất gần như toàn dân tộc. ở đó các ý tưởng tôn giáo, tiêu chuẩn địa lý, nếp thẩm mỹ thống nhất hữu cơ với nhu cầu ăn ở. Tính đến thế kỷ 18, Việt Nam có 11.800 làng xã, khác biệt nhau về tập tục, hương phong, nhưng thống nhất ở quy hoạch cư dân và canh tác lúa nước. Nhà sàn là tiền thân của ngôi nhà Việt, mái cao nhưng phủ thấp, sàn cao, thân nhà tưởng như thấp chỉ tầm người ngồi, nhưng nội thất lại khá cao rộng và điều hòa không khí thì dễ chịu vô cùng, làm cho con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa gần với tự nhiên một cách bản năng. áng sáng không rọi sâu vào lòng nhà theo cửa sổ quá một mét, nhưng mở hết các cửa sổ lại khá sáng. Mọi đồ đạc như gương, tủ, bàn ghế trở nên không cần thiết trong ngôi nhà sàn. Từ nhà sàn chuyển xuống nhà đất, chỉ còn lưu lại ở các ngôi đình làng, chủ yếu trong ba thế kỷ 16, 17, 18, nhưng phân khu chức năng đã rõ ràng. Mái đình cao vào dốc chiếm tới 2/3 chiều cao toàn bộ, sàn cao từ 70, 120 hoặc 150cm. Mái dốc, góc của mái khoảng 45 0- 60 0cho lưu lượng nước chẩy nhanh trong điều kiện bốn mùa đều có mưa cả, điều này cho thấy những nhà mái bằng hiện nay là thất sách khi thường xuyên thấm dột. Nhiệt độ từ nắng nóng, tích nhiệt vào bộ mái, chuyển sang mưa và lạnh rất nhanh, dao động từ 20 0- 25 0, làm vật liệu hỏng vỡ rất nhanh. Mái đình khắc phục bằng cách lợp ngói rất dầy giữa hai lớp ngói, phết một lớp bùn, vừa làm kết dính, vừa ổn định nhiệt, và lòng đình rất mát. Khu vực trung tâm lòng thuyền để thoáng, trũng xuống và giật cấp cao lên dồn lên cửa võng, rồi đua vào hậu cung, sàn tỏa ra hai bên, hai bên chái lại thấp xuống, hạn chế mọi ánh nắng xuyên thẳng. Quy cách gian thờ trung tâm phổ biến cho mọi kiến trúc tôn giáo và dân sự. Nhà là ba gian, năm gian, hoặc ba gian hai chái, có nhà đến chín gian. Gian chính giữa bao giờ cũng là nơi thờ, nghèo thì bịch thóc bằng đất, rương gỗ, sang thì hương án, ngai gỗ, bài vị, cửa võng, hoành phi câu đối. Trước hương án đặt phản hoặc sập, đàn bà trẻ con không được ngồi ở đây, khách quý thì được, nhưng không được ngồi quay lưng vào ban thờ. Hai gian hai bên đều kê giường phản và bàn, trường kỷ. Hai chái làm thành hai buồng, cho vợ chồng chủ nhà, bố mẹ và kiêm luôn kho đựng. Tuy vậy sinh hoạt cá nhân luôn thận trọng, và thực chất chẳng có nơi nào là kín đáo cả. ở đây không có chỗ dành cho tình yêu hiện đại, cũng là một lý do để thanh niên nông thôn hiện tại không muốn sống trong những ngôi nhà truyền thống nữa. Từ ngưỡng cửa ra đến giọt gianh là hàng hiên khá rộng từ 120 - 150cm, sát giọt gianh được bưng lại bằng liếp, hoặc dại cửa, nên nội thất đã ít ánh sáng, lại càng tối, người ta có thể mở cửa sổ hậu trông ra vườn. Hiên rất sạch nơi chơi của trẻ em và đặt cối xay gạo. Bậu cửa nhà cổ khá cao, ngăn chó mèo, lợn gà, và rác, cũng như tạo chỗ ngồi chơi, tạo bước đi tôn kính khi đi lại trong nhà. Đồ đạc cũng vậy, cấu trúc đơn giản, chút ít hoa văn, tương đối khô khan, khuôn phép người dùng không ngả ngốn.

Nhà tre, nhà vách đất và nhà trình tường nói lên cái nghèo khó của người nông dân, nhưng chúng lại được xây dựng khá công phu, tỷ mỷ, không thiếu tính nghệ thuật. Đan dứng, trộn rơm với bùn, trát vách nhẵn phẳng, chuốt tre cẩn thận, vót đẹp từng con xỏ, đan liếp nong đôi nong ba, lợp cẩn thận từng lớp mái rạ, gianh, chồng kay đất cho khít... tất cả là những kỹ thuật được tổng kết lâu dài đem lại một công năng sinh hoạt không tồi. Do vật liệu đơn sơ, nhà tre và nhà trát vách khá sáng sủa, so với kiến trúc nói chung, về cả âm thanh trong nhà cũng như ngoài nhà không có gì khác biệt. Câu nói “nhà giột cả mưa lẫn nắng” chính xác cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, khiến những người sống ở đó chỉ còn tìm cách “giấy rách phải giữ lấy lề”. Nhà trình tường nói chung rất tối với tường dầy 50cm, nhưng nhiệt độ trong nhà rất ổn định, luôn khoảng 20 - 24 0C, và bền vững vô cùng, ngay trong tình trạng hoang phế. Khả năng cách âm cũng tốt. Xử lý nền đòi hỏi nhiều kỹ thuật sao cho mùa nồm không bị ẩm. Có thể lót bằng gạch mộc, nung không già quá, để có độ thẩm thấu. Hoặc dầm tro, vôi, đất lọc, mặt nền rất cứng, ổn định, không bao giờ bị ẩm. Những nguyên liệu này có thể không đẹp, không sạch theo quan niệm bây giờ, nhưng có lợi cho sức khỏe, cũng giống như mái ngói, vì kèo gỗ. Sống trong vật liệu tự nhiên, có sự thở tự nhiên, cơ thể con người khỏe mạnh hơn. ở đây bộ mái đóng vai trò điều chỉnh ánh sáng. Nơi nắng ít thì làm mái cao, nơi nắng nhiều như miền Trung, người ta làm mái sát gần tới thềm nhà, ra vào cửa đều phải chui lom khom.

Phân bố không gian trong kiến trúc cổ có một lợi thế là dân số ít, đất đai rộng, nhà không cao tầng, mà dàn trải trên diện rộng, dù nghèo nhất cũng kết hợp nhà vườn. Vườn trước, vườn sau, cổng, ngõ, ao tự nhiên, hồ bán nguyệt, còn nhà lọt thỏm trong khuôn viên, vô cùng dễ điều chỉnh hướng. Trong khuôn viên này người ta chú trọng đến kinh tế tự nhiên trong gia đình, rau cỏ hoa quả và chăn nuôi gia súc, xay lúa, giã gạo, chăm tằm dệt vải... nghĩa là tự cung tự cấp hoàn toàn, vì về thực chất xã hội không phát triển kinh doanh, nông dân hầu như không có tiền, tất cả mọi thứ sinh ra từ nhà ta, cho ta dùng. Nhà - gia đình - làng - nước có một mối quan hệ khăng khít, người nông dân không trông mong gì vào sự trợ giúp của nhà nước, ngoài việc quốc gia thái bình, chính sách khoan dung.

Thiên nhiên luân hồi và đời người ngắn ngủi sinh ra cảm thức về cái vô nghĩa, dẫn đến những không gian trống rỗng, không sử dụng vào mục đích gì rõ rệt. Đặc biệt là các loại kiến trúc đình: giang đình, phương đình, viên đình, kiều đình, dịch đình, trạm đình, biên đình hoàn toàn là kiến trúc bỏ ngỏ cho người trú chân, đi chơi, lơ lửng ven sông, ven đường, vườn hoa, nơi thâm sơn cùng cốc. Nhà không có tường, mặt bằng vuông, chữ nhật, bát giác hoặc tròn, bốn bề chỉ là để hóng gió. Kiến trúc đền thờ cũng có nhiều không gian hư vô như vậy: cổng trụ, tường ngăn thấp, bình phong... phân cắt với những vườn cảnh tạo ra những không gian thay đổi, nhiều bề, nhiều hướng, có tính gia trưởng, còn khu vực sử dụng không có mấy (điển hình là Văn Miếu). Không gian hư vô đặc biệt hệ thống trong kiến trúc chùa (kiểu nội công ngoại quốc). Hệ thống này đương nhiên vẫn có trục xuyên tâm và phát triển các lớp ngang kiến trúc trên trục xuyên tâm gây cảm giác đi mãi, đi sâu không cùng, mở ra nhiều hướng làm cho ngôi chùa có vẻ lớn hơn thực thể của nó, không phân biệt trong ngoài là đâu, bắt đầu từ đâu và kết thúc từ đâu.

Văn Miếu, chùa Bút Tháp, chùa Keo (Thái Bình) là điển hình của kiến trúc trục, nhiều lớp không gian mở. Những công trình được phân bố với những khoảng cách khác nhau, chắc chắn có một thông số thống nhất với hệ thống điêu khắc và để sự quan sát có thể cảm nhận tác phẩm cá lẻ và ý nghĩa chung trong hệ thống. Không gian trống rỗng và đa hướng của Văn Miếu đã khu biệt trong Văn Miếu và ngoài đô thị hoàn hảo để đạt được cái tĩnh lặng giữa nơi ồn ĩ. Hàng loạt kiến trúc bỏ ngỏ: Tam quan - Đại trung môn - Khuê văn các - hồ nước - Đại Thắng môn và những cửa tò vò mở ra hai bên đi tỏa vào phía hàng bia tiến sỹ tạo thành ba con đường nhỏ xuyên toàn bộ khu vườn cảnh. Trọng tâm được nhấn, có độ cao là Khuê văn các cũng là lầu hóng gió hư vô. Xuất thế và nhập cuộc, danh lợi và hư ảo là điều cần tri ngộ trong quá trình tiến thân phải có xuất có xử, tri ngộ cái giới hạn trong cái vô cùng.

Phân khoảng trong chuỗi kiến trúc này có thưa có dầy không đều đặn, nhưng mang tính liên tục, rồi dồn lên ở những đỉnh cao (như gác chuông và tháp). Trong nội thất, hành lang được mở thông với tiền đường và hậu đường, các nhà khác trong nội chùa mở các cửa ngách thông ra tất cả các lối ngang, còn phía chính diện trên trục đăng đối thường dùng cửa bức bàn (có tính chất giới hạn giả tưởng, nửa kín nửa hở). Giữa hai nếp nhà (theo kiểu trùng thiềm điệp ốc), hai giọt gianh của hai mái gần khít với nhau, đôi khi chênh về độ cao, để mở ánh sáng vào trong, tạo ra khoảng không gian nghỉ - một kiểu vườn cảnh. Chiều cao mở rộng trong tiền đường với những tượng lớn, thu hẹp ở chính điện do ban thờ Phật dầy đặc tượng kéo lên sát mái. Phép kích thích thị giác sân khấu được vận dụng. Cái gì ở gần phóng thật to (tượng Hộ pháp), cái gì ở xa thu thật nhỏ (tượng Tam thế), làm cho không gian hẹp có vẻ sâu rộng hơn.

Hệ thống điêu khắc làm thay đổi hoàn toàn không gian trong chùa, khiến cho không thể quan niệm một thiền viện mà không có tượng Phật. Không gian bên trong là không gian của điêu khắc, cho điêu khắc và sinh ra bởi điêu khắc. Các tượng Phật dù cá lẻ hay trong tập hợp có chung một xu hướng ngôn ngữ, hoặc vài loại bút pháp nhưng định hướng chung với ý nghĩa lớn của toàn bộ hệ thống. Kích thước cao thấp, to nhỏ, tượng đứng hay ngồi, trên bệ thờ cao thấp ngắm nhìn đâu cũng thấy hết hệ thống, cũng như thấy từng cá thể. ánh sáng là yếu tố quan trọng trong hệ thống này. ở những nơi ít tượng, nhiều ánh sáng, không gian rộng bề mặt tượng được làm nhiều chi tiết (Hộ pháp, Kim cương). ở nơi nhiều tượng, ít ánh sáng, không gian chật, ngôn ngữ tượng trở nên đơn giản, bề mặt thoáng, khối lớn, thần thái được tô vẽ sao cho toát lên cái tĩnh lặng, thiêng liêng. Tất cả đều được sơn thếp vàng son. Các hòa sắc đen, vàng, son và nâu gỗ mộc là màu chủ đạo. ánh sáng nội thất cũng mang màu sắc này. Trong hương khói, trong tiếng mõ gỗ đều, trong tiếng cầu kinh, ánh sáng Thiền hòa nhập Phật tử và Phật tượng là một, thống nhất cái cá thể hữu hạn trong cái thời gian vô cùng, vô hạn. Việc tạo những nội thất tối, chỉ có ánh sáng vàng son phản quang từ đồ thờ và tượng Phật không chỉ định hướng bởi ý tưởng tôn giáo, mà còn phù hợp với tính chất kỹ thuật sơn thếp trong điêu khắc cổ, sơn ta khô và bền trong khí hậu khô và nóng. Ngôi chùa là nơi di dưỡng cả tinh thần lẫn thể chất con người, do đó nó được tính toán cẩn thận, phía ngoài và tổng thể phù hợp với phong thủy, ngoảnh về hướng Đông Nam, có núi án núi chầu, có tả long hữu hổ, có sông tụ thủy trước mặt. Trong thì đủ các yếu tố âm dương, ngũ hành, có núi, có nước, có rỗng có đặc, có kim khí, cây cỏ, đồ gỗ, hương nhang, giếng nước, hồ nhân tạo, đất đai, đá, gốm - tức là đủ ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), những thành phần cấu tạo nên thế giới, hỗ trợ cho tâm, can, tỳ, phế, thận trong con người. Về mọi mặt ngôi chùa là toàn thiện, dưỡng sinh, định thần, gây niềm hoan lạc trong bể dâu chìm nổi. Khi tụng kinh, tọa Thiền, người ta có những giây phút nhất định đạt đến sự trống rỗng và điểm sâu nhất của tinh thần sẽ hòa tan cái cá nhân vào vũ trụ, nối liền cái thân thể của mình với vật chất xung quanh, nói một cách thô thiển là có thể lấy năng lượng của vật chất xung quanh hỗ trợ cho vật chất trong cơ thể mình, nhưng ý nghĩa lớn là hiểu mình để hiểu thế giới.

Yếu tố hư vô trống rỗng, được nhấn mạnh thành đặc trưng không gian và ánh sáng trong chùa. Chữ hư vô, trống rỗng là một cách tạm hiểu không chính xác khái niệm “không”. Không đây vừa là tất cả, vừa không là gì cả, là hiện hữu nhất thời và tuyệt đối không hiện hữu. Khái niệm này về căn bản không để giải thích, không để hiểu, mà chỉ cảm nhận. Ví dụ một bàn tay Phật, ngón cái và ngón giữa co lại thành vòng tròn, ba ngón kia xòe ra. Đây là từ không sinh ra thiên địa nhân. Một cửa sổ khi cưa chấn song, người ra nhặt phần bỏ đi làm chấn song, ghép lại với nhau, thì khoảng rỗng sẽ có hình chấn song. Đây chính không là sắc, sắc là không vậy. ánh sáng nhìn từ trong nhà ra ngoài là một trong những cảm quan quan trọng. Từ nội thất nhìn ra ngoài vườn, qua cửa tò vò trong thì tối, ngoài thì sáng, sao cho cắt cảnh hiện lên như một bức tranh. Nhìn những song cửa tròn và vuông, nửa sáng nửa tối cảm thức được cái không cái có luân chuyển trong cuộc sống. Bản thân cuộc sống cũng chỉ là ảo ảnh, mà Nguyễn Du gọi là “Kiếp phù sinh như hình bào ảnh (cái bong bóng nước). Của phù sinh có có không không”. Mọi phân bố không gian khác, rộng hẹp, nông sâu, cao thấp cũng không ngoài ý nghĩ này, một ý nghĩa triết lý về tồn tại, nhiều hơn sự sùng bái tôn giáo. Tam quan trống rỗng với Không quan, Trung quan và Giả quan, ta đi vào và đi ra, trong hay ngoài cũng vậy. Gác chuông hai tầng, tám mái hứng gió bốn mùa, gõ một tiếng chuông tạo ra âm thanh, âm thanh chính là cái có rồi quay trở về cái không. Tiền đường trống rỗng, hành lang trống rỗng. Các cửa mở đóng khoan nhặt đi đâu cũng đẹp, cũng phong phú, nhưng đi đâu cũng là hư tịch cả.

Khác với nhà hát và nhà thờ cấu tạo như một hộp âm, kiến trúc chùa đều do quá nhiều khoảng trống, không có khả năng tạo hộp âm như vậy. Nhưng nó chú trọng đến tính phối hợp âm với năm thanh kim mộc thủy hỏa thổ do bài trí đồ tế tự theo ngũ hành. Khi đọc bài cúng cháo (rằm tháng 7) chẳng hạn, người ta sử dụng 5 người đọc 5 giọng, mỗi người một câu. Ngũ âm do 8 nhạc khí hình thành, phối hợp với nhau là đủ một buổi hành lễ không quá lớn. ở Phủ Giầy, khi nhiều giá lên đồng được tiến hành cùng một lúc, vào từng khu vực nghe vẫn rõ, do cách dùng đồ thờ, đồ mã và dàn người quây quanh tạo ra các phân khu âm thanh riêng biệt. Địa lý phong thủy, triết học âm dương, ngũ hành là nền tảng khoa học của kiến trúc cổ, nó không được biểu hiện bằng bất kỳ hình thức đo lường nào, mà bằng sự tuân thủ theo hệ thống đặt con người vào trong tự nhiên, như hòa giọt nước vào biển cả, giọt nước sẽ là vĩnh viễn.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.