Thấy gì trong kỳ học Quốc hội lần thứ nhất
Kỳ họp Quốc hội lần đầu tiên diễn ra ngày 2 tháng 3 năm 1946, sau ngày bầu cử thành công 6 tháng 1 – 1946. Phải nói rằng Nhà nước ta còn rất trẻ mà phải đương đầu với vô vàn khó khăn, thiếu thốn. Ở Nam Bộ, quân đội Anh hỗ trợ cho quân Pháp đem quân vào gây chiến. Ở miền Bắc, quân Tàu Tưởng tràn vào. Ở trong nước, các tổ chức phản động dựa vào quân đội nước ngoài nổi lên, quấy phá tùm lum. Đảng và Chính phủ ta đã buộc phải chấp nhận một kè thù đỡ nguy hiểm hơn, để Pháp đưa quân vào, tìm cách gạt quân Tàu Tưởng ra. Do vậy mà phải ký Hiệp ước mồng 6 tháng 3 là một đối pháp, một nước cờ rất cao tay, dùng địch để đuổi bớt địch. Cuối tháng 3, quân đội Pháp vào thủ đô Hà Nội, đóng doanh trại ở nhiều nơi trong thành phố, đi lại ngang tàng, quấy rối, uy hiếp dân ta. Chúng cũng đóng quân ở ngôi nhà Ngân hàng Trung ương, ở phố Lý Thái Tổ, sau vườn hoa Chí Linh. Chúng đặt súng lớn ở trên nóc nhà Ngân hàng, chõ nòng về phía Bắc Bộ phủ và Nhà Hát lớn, sẵn sàng nổ súng lúc nào không biết. Lúc bấy giờ Bắc Bộ phủ là cơ quan của Bộ Nội vụ, thường có những cuộc hội nghị quan trọng, cũng là nơi làm việc chuẩn bị tổ chức ngày họp Quốc hội ở Nhà Hát lớn.
Trước ngày Quốc hội họp (1 – 3 – 1946), dân quân, tự vệ, bộ đội, công an,… tuần tra, canh phòng các phố xung quanh Nhà Hát lớn đã bắt một số người lảng vảng đáng nghi. Thanh niên bảo vệ phát hiện hai quả mìn đặt ở vườn cây Cổ Tân sát ngay bên Nhà Hát lớn, hòng gây tiếng nổ lớn hoặc phá hoại.
Là nhân viên tổ chức, chúng tôi phải đến Nhà Hát lớn rất sớm, được nghe báo cáo tình hình rắc rối của ngày đêm hôm trước. Cũng may mọi việc đều được yên ổn, thời tiết tốt. Trong hội trường, lá cờ đỏ sao vàng treo ở trên tường sân khấu, các cạnh của ngôi sao còn bầu tròn không thẳng đường như ở lá cờ hiện nay. Ba dãy ghế mây song được đặt chéo từ góc trái sang phải. Bàn của thư ký đặt ở góc gần mặt tiền sân khấu. Băng – rôn có khẩu hiệu “Kháng chiến - Kiến quốc” treo ở bao lơn của tầng một bên phải. Thảm đỏ được trải dài dọc đường giữa hội trường từ phía cửa vào cho đến sân khấu. Hình thức đơn giản nhưng không khí rất trang nghiêm.
Các nhà báo, phóng viên, nhiếp ảnh, cán bộ tổ chức, nhân viên bảo vệ… đi lặng lẽ, trật tự. Các đại biểu người nước ngoài với tư cách là quan sát viên ngồi ở ban công tầng 1, nhìn thẳng về phía sân khấu.
Số đại biểu trúng cử qua lần bầu cử đầu tiên gồm có 333 vị (trong số đó có 87% là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu nữ, 34 đại biểu dân tộc thiểu số…) ngồi kín ở các hàng ghế. Riêng hai hàng ghế đầu, phía bên phải (từ trên sân khấu nhìn xuống) dành cho đại biểu Việt Nam Quốc dân đảng, các vị này đều đeo ca vát đỏ. Hai hàng nghế phía bên trái dành cho đại biểu đảng Đại Việt. Hai loại đại biểu này đều không phải thông qua kỳ bầu cử vừa rồi của toàn dân.
Đúng 9 giờ khai mạc, đoàn Chủ tịch vào hội trường, đi đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, bước trên thảm đỏ, lên sân khấu, ngồi vào ba hàng nghế mây, không có đệm vải đã đặt sẵn. Trong số đại biểu Chủ tịch đoàn này, chúng tôi thấy vị gần nhất là cụ Huỳnh Thúc Kháng, vị to béo nhất là ông Vĩnh Thuỵ. Ông này mặc com - lê màu mỡ gà, đeo kính đen (tật của ông là luôn đeo kính râm). Rất may mắn là cái ghế mây mảnh khảnh đỡ tấm thâm to lớn không gẫy chân, nếu gẫy thì chuyện gì sẽ xảy ra, Ban tổ chức không lường trước được. Ông Nguyễn Tường Tam mặc sơ mi đen, quần đen, đi ủng cao đến đầu gối.
Bài nhạc “Tiến quân ca” và bài nhạc “Hồn sĩ tử” nổi lên. Bác Hồ báo cáo ngắn gọn. Quốc hội thảo luận nhiều vấn đề. Ai phát biểu thì giơ cao tay hoặc giơ tấm thẻ con ghi số của mình. Ví dụ, một người giơ tấm thẻ số 219 thì chúng tôi biết đó là vị đại biểu của tỉnh An Giang ngồi ở chỗ gần cuối hội trường bên phải. Như vậy, tuy thời gian chuẩn bị gấp rút, các đại biểu từ miền Namxa xôi như Bến Tre, Cà Mau… vẫn có mặt rất đông đủ (Bắc Bộ: 152; Trung Bộ: 108; Nam Bộ: 73). Quốc hội đã quy tụ đại biểu tất cả các giai cấp, các ngành, các giới, các đảng phái, công nhân, nông dân, trí thức, các thành phần tôn giáo, các dân tộc thiểu số… Bác Hồ mang thẻ đại biểu số 305. Điều này thể hiện Quốc hội kỳ này không đại diện riêng cho một đảng phái nào mà là đại diện cho toàn thể quốc dân Việt Nam.
Đến khi thảo luận về quốc kỳ, hội trường nhao nhao hẳn lên. Đại biểu của đảng Đại Việt cho cờ đỏ sao vàng sơ sài, tầm thường không nói lên được nền văn hoá nhiều nghìn năm của Việt nam. Đại biểu Quốc dân đảng cho cờ đỏ sao vàng là lá cờ của Việt Minh không bao hàm được tính chất của các đảng phái, thành phần khác… Bác Hồ tiến lên phía trước, giơ cao tay phải, dõng dạc, tiếng vang vang: - “Cờ đỏ sang vàng tượng trưng cho máu xương của nhân dân ta đổ ra để đấu tranh giành lấy sự sống còn của đất nước. Nó đã có mặt ở khắp mọi nơi trên cả nước ta. Nó đã tung bay từ Á sang Âu. Nó nói lên tinh thần bất khuất của nhân dân ta. Không một đảng phải nào, không một cá nhân nào có quyền thay đổi màu cờ khác”. Cả hội trường vỗ tay rào rào, đồng tình với lời của Bác. Và lá cờ đỏ sao vàng đã chính thức trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ đó. Buổi họp có giờ giải lao. Mọi người kéo lên tầng gác trên, nơi có Phòng kính (Glacière). Nơi đây có quầy phục vụ giải khát: nước cam, nước chanh, sữa, nước chè, các thứ qủa và bánh kẹo. Các cô tiếp tân mang thức dùng đến từng vị đại biểu hoặc ai muốn ăn uống gì thì đến quầy mà lấy tuỳ thích. Từng nhóm năm ba người đứng nói chuyện, trao đổi với nhau. Riêng tôi cũng cầm một cốc nước chanh, được dịp chiêm ngưỡng Bác Hồ. Bác tranh thủ tiếp xúc với các vị đại biểu người ngoại quốc, khi thì bác nói tiếng Nga, khi thì bác nói tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung… Có một điều tôi không bao giờ quên được, Bác vẫn mặc bộ quần áo kaki màu đã nhạt, khuy cổ áo không cài. Bác ơi, sao Bác mặc đơn sơ thế! Khác với hình ảnh của các vị nguyên thủ quốc gia nước ngoài trong ngày lễ, ngày hội mà tôi hình dung từ trước: Bác quắc thước nhưng hơi gầy. Bác chịu gian khổ vì ai? – Tôi nghĩ như vậy mà muốn rơi nước mắt. Có lẽ không phải riêng tôi, mà bất cứ ai thấy dung nhan và quần áo của vị cha già dân tộc như vậy cũng cảm hoài tương tự. Thời gian của kỳ họp Quốc hội lần này không dài, nhưng đã biểu quyết được nhiều việc trọng đại, có tính lịch sử đối với vận mệnh của toàn dân tộc. Những điều nghe thấy trên đây là sự thật trong dịp tôi được vinh dự ngồi vào bàn Thư ký đoàn, tôi có thể quan sát toàn cảnh hội trường, ghi chép đầy đủ các sự kiện và lập thành biên bản lưu lại. |

Bài nhạc “Tiến quân ca” và bài nhạc “Hồn sĩ tử” nổi lên. Bác Hồ báo cáo ngắn gọn. Quốc hội thảo luận nhiều vấn đề. Ai phát biểu thì giơ cao tay hoặc giơ tấm thẻ con ghi số của mình. Ví dụ, một người giơ tấm thẻ số 219 thì chúng tôi biết đó là vị đại biểu của tỉnh An Giang ngồi ở chỗ gần cuối hội trường bên phải. Như vậy, tuy thời gian chuẩn bị gấp rút, các đại biểu từ miền Namxa xôi như Bến Tre, Cà Mau… vẫn có mặt rất đông đủ (Bắc Bộ: 152; Trung Bộ: 108; Nam Bộ: 73). Quốc hội đã quy tụ đại biểu tất cả các giai cấp, các ngành, các giới, các đảng phái, công nhân, nông dân, trí thức, các thành phần tôn giáo, các dân tộc thiểu số… Bác Hồ mang thẻ đại biểu số 305. Điều này thể hiện Quốc hội kỳ này không đại diện riêng cho một đảng phái nào mà là đại diện cho toàn thể quốc dân Việt Nam. 






