Thành nhà Hồ - Kiến trúc đá kỳ vĩ
Với cái nhìn của một nhà quân sự, Hồ Quý Ly đã chọn vị trí xây thành đặc biệt hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có núi non hiểm trở, vừa có ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được ưu thế giao thông thuỷ bộ. Cũng như mọi kinh thành khác, thành Tây Đô cũng chia làm hai khu: khu thành nội và khu thành ngoại.
Khu thành ngoại được đắp bằng đất với khối lượng gần 10 vạn mét khối đất, trên trồng tre gai dày đặc cùng với một vùng hào sâu có bề mặt rộng gần tới 50m bao quanh.
Đáng chú ý nhất là khu thành nội, nơi thể hiện nghệ thuật kiến trúc xây ghép đá tuyệt diệu của nhân dân ta ở thế kỷ XIV. Thành được xây trên bình đồ hình chữ nhật, chiều dài 900m, chiều rộng hơn 700m và chiều cao trung bình 6 – 8m, dày hơn 4m. Mặt thành phía ngoài thẳng đứng được ghép bằng những khối đá xanh, vuông thành sắc cạnh, mỗi phiến đá có độ dài trung bình 1,5m, rộng 1m và dày 0,8m; có phiến dài tới 7m, rộng gần tới 2m và dày hơn 1m, nặng hàng chục tấn, được xếp chồng lên nhau kiểu chữ Công. Bốn mặt thành có bốn cửa: Cửa Tiền (cửa Nam), cửa Hậu (cửa Bắc), Đông Môn và Tây Giai, xây kiểu vòm cuốn, đá xếp múi bưởi.
Ba cửa Đông Môn, Tây Giai và Cửa Bắc, mỗi cửa đều chỉ có một vòm cuốn nhô lên cao hơn mặt tường thành, cửa Đông Môn và cửa Tây Giai mỗi cửa có chiều rộng 5,8m và sâu 14m. Cửa Bắc to lớn hơn, phía ngoài dài 22m và cao 75m, mặt trên là nền đá bằng phẳng, xưa kia có Vọng lâu đài được dựng bằng gỗ, mái ngói mà dấu tích còn lại là những hố chôn cột đục trên đá sâu 0,45m.
Đẹp và lớn hơn là cổng thành phía nam (Cửa Tiền) có chiều rộng 38m, cao 10m, với 3 cửa vòm cuốn lớn, mỗi cửa vòm rộng 5,8m, cửa giữa cao 8,5m. Hai cửa hai bên cao 7,8m, cả ba cửa đều dày khoảng 15m, phía trên là mặt đá bằng phẳng, có lầu son gác tía, với chức năng cũng như cửa Ngọ Môn của kinh thành Huế, là nơi nhà vua ngự mỗi khi có những nghi lễ trọng đại. ở trong thành có các công trình kiến trúc nguy nga, lộng lẫy, các đền đài, cung điện, nơi vua ngự triều, nơi vua ở, Đông cung, Đông Thái miếu, Tây Thái miếu v.v…
Điều đáng ngạc nhiên và khâm phục là công trình kỳ vĩ như vậy lại được hoàn thành chỉ sau ba tháng thi công, từ tháng giêng đến tháng ba năm 1397. Một công trình đồ sộ, chưa kể phần đào hào đắp luỹ, chỉ riêng việc phá đá, đục đẽo thành những khối đa vuông thành sắc cạnh, vận chuyển (nơi lấy đá gần nhất cũng gần 3km), đưa những khối đá nặng hàng chục tấn lên cao hàng chục mét, xây lắp rất chính xác v.v… trong điều kiện lao động thủ công, cũng đã là điều kinh ngạc biết bao.
Sáu thế kỷ trôi qua, những biến động của lịch sử cũng như thiên nhiên khắc nghiệt đã huỷ hoại phần lớn kiến trúc kinh thành của một triều đại. Nhưng Thành Đá - Tây Đô, những di tích ít ỏi còn sót lại là những di sản văn hoá quý báu, một biểu hiện khả năng kỳ diệu của ông cha ta. Một chứng tích tuyệt vời của trí thông minh, tinh thần lao động cần cù, sáng tạo và tài năng lãnh đạo, tổ chức của dân tộc ta cách đây 600 năm.
Nguồn: Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 99, Tết Đinh Hợi 2007








