Tết và Bánh Chưng
Câu ca quen thuộc với nhiều thế hệ người Việt Nam , giờ đây như đã trôi về quá khứ với lớp trẻ.
Nhiều nhà ở thôn quê không còn trồng cây nêu, đánh động ngày bắt đầu vào kỳ Tết. Tiếng pháo nổ đã rơi vào quá khứ, nhiều năm rồi Tết im tiếng pháo. Không tiếng nổ, không hương pháo, Tết cứ nhàn nhạt thế nào. Tràng pháo treo trước nhà chờ giờ giao thừa đến cũng không còn. Câu đối đỏ cũng chẳng mấy nhà treo ngày Tết. Câu đối bằng chữ quốc ngữ viết loằng ngoằng cách điệu rồi gọi là thư pháp như lời lớp trẻ bình luận “chẳng giống ai”. Câu đối chữ Hán, chữ Nôm mấy ai hiểu cặn kẽ để biết chúng đã không bị “thầy đồ vườn” viết sai chính tả để sai một li đi một dặm. Thôi thì, ngày Tết “kiêng” câu đối ra cho nó lành.
Sáu tứ chỉ còn ba: Bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành là ai cũng biết.
Một thời khó khăn, nhà nhà lo gắng có nồi bánh chưng, được nồi bánh chưng ngon lành, ấy coi như đã lo xong cái Tết cho con trẻ. Dẫu Tết đâu chỉ có bánh chưng.
Thời khó khăn ấy, lo nồi bánh chưng, vất vả mà vui. Ở nông thôn thì mấy nhà đụng chung con lợn, chia nhau ăn Tết. Ở thành phố phụ thuộc tem phiếu, tháng Tết là dồn cả cho nồi bánh. Cơ quan có được người lãnh đạo quan tâm đến đời sống anh em thì cái Tết được tươm tất hơn nơi khác. Cơ quan tôi có lẽ là nơi được lãnh đạo quan tâm nhất ở thời bao cấp. Trước Tết cả tháng, lãnh đạo đã lo với huyện Nam Sách ( Hải Dương) để xin được mua gạo nếp,gạo tẻ, thịt, đỗ xanh…Những anh chị em khác, ai có quan hệ với bên bách hóa, thực phẩm đều được huy động vào cuộc để mua từ mì chính, nước mắm, và cả xì dầu …nữa. Nghĩa là có gì để lo cho đời sống anh em đều mua tất.
Những ngày gần Tết, công đoàn cơ quan làm hết năng suất. Anh chị em sẽ lo chia cho nhau, gạo, đỗ tính theo số cán bộ công nhân viên rồi chia đều ( khác bây giờ chia theo thưởng theo lương thì lãnh đạo luôn được cao hơn anh em, không công bằng vui Tết tẹo nào). Thường thì mỗi người được chia 10 cân gạo mỗi loại, và 3 cân đỗ xanh. Thật quý hóa, và tất nhiên để ăn dần những ngày về sau nữa chứ Tết ăn hết làm sao được? Khi cân, vì chia lẻ từ bao lớn ra, nên khi cân bớt đi một chút, rồi số dư ra, lại bốc bỏ thêm mỗi xuất một vài nắm…đảm bảo tuyệt đối công bằng.
Vui nhất trong các buổi chia là thịt lợn. Lợn được đi bắt từ hôm trước, đêm sẽ về đến cơ quan để ngày mai mổ thịt. Cũng giống như gạo, đỗ xanh, cơ quan tôi chia thịt lợn rất đều, mỗi xuất có đều thịt mông, vai sấn, dọi, sườn, thủ, chân giò…và một suất lòng luộc cũng được chia đều như thế. Nước luộc lòng được bỏ ít gạo vào nấu cháo ăn chung, nồi cháo to đến nỗi ai muốn lấy về bao nhiêu tùy ý. Các cơ quan khác chỉ được chia ký, ký rưỡi, riêng cơ quan tôi, nhờ tài của lãnh đạo nên thường được chia đến tận 15 ký lô gam lợn hơi. Không rõ thời đó thịt bò, thịt trâu đi đâu nhỉ, cơ quan tôi không được chia hai loại này.
Thịt mang về là niềm hân hoan của cả nhà. Thịt nạc làm ruốc, mỡ rán, thịt dọi áp chảo rồi dìm vào mỡ để ăn dần. Quan trọng nhất, đó cũng là ngày gói bánh chưng.
Tết là ngày quan trọng nhất trong năm. Người Việt có câu “đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”. Điều quan trọng mà gia đình nào cũng quan tâm là chiếc bánh chưng và mâm ngũ quả. Bánh chưng mỗi vùng miền cũng có sự khác biệt đôi chút. Miền Nam gói bánh Tét, về nguyên liệu giống bánh chưng, nhưng hình thức gói hoàn toàn khác. Cùng gói bánh chưng vuông, mỗi vùng miền có đôi chút khác biệt. Tôi đã được ăn bánh chưng của một vùng quê Thanh Hóa nhân có cả xương, cả hành…Ngoài bánh chưng truyền thống, có gia đình khéo léo, cầu kỳ hơn làm bánh chưng gấc, bánh chưng nhân trứng mặn, bánh chưng ngọt…Nhưng phổ biến hơn cả là bánh chưng truyền thống có gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn…
Gói bánh chưng có người gói vo bằng tay, còn không khéo tay lắm lại muốn vuông vắn cho đẹp thì có thể gói khuôn. Bánh chưng gói khuôn thường không được chắc bánh bằng gói tay. Lá dong những ngày trước Tết cả tháng đã được mang từ miền ngược về phục vụ cho nhu cầu thành phố. Ở nông thôn nhiều nhà trồng lấy vài bụi lá dong thì không cần mua. Lạt để buộc bánh phải là lạt giang, mới dẻo, dễ xoắn. Thịt gói bánh chưng người nội trợ giỏi phải chọn đúng loại nạc vai vừa mỡ vừa nạc, rồi ướp với nước mắm thật ngon và chút hạt tiêu, để trước vài tiếng cho thịt ngấm mới gói bánh. Khi gói bánh cả nhà, thậm chí cả hàng xóm quây quần cổ vũ. Trước tiên phải tước phần sống cứng của lá, rồi phân lá to riêng, nhỏ riêng, để người gói sẽ chọn gói kèm nhau, lá to để ở phía ngoài cùng và trong cùng. Chiếc lá phía trong để mặt xanh tiếp xúc với gạo thì bánh chưng mới có màu xanh đẹp mắt. Bánh chưng to nhỏ tùy sở thích mỗi gia đình để gói. Trung bình một chiếc bánh chưng là ba lạng gạo, một lạng đỗ xanh, một lạng đến một lạng rưỡi thịt. Gạo ngâm trên tám tiếng mới đem gói, trước khi gói, thường được ao bằng bát để ước lượng số gạo cho đều. Người gói bánh bằng tay thường ước lượng rất giỏi, nếu chia thì hẳn đã hết, nhưng kiểu gì cũng bớt lại mỗi thứ một tý để phần gói chiếc bánh cho trẻ nhỏ, gọi là bánh cua. Nhà có bao nhiêu trẻ thì gói bấy nhiêu bánh chưng cua kẻo thiếu thì trẻ không được tủi thân đến mất cả Tết. Những chiếc bánh chưng gói xong đều tăm tắp, nhìn bánh cao thành vuông góc thấy ngay tay nghề gói bánh của từng người. Người vụng thì cái bánh tám góc chẳng bằng nhau.
Bánh gói xong rồi cho nồi đem luộc. Thời bao cấp cũng nhiều nhà chỉ gói cho vừa ý mình đánh dấu mỗi nhà một ký hiệu rồi mang thuê luộc ở tổ phục vụ. Các tổ phục vụ luộc bánh chưng bằng bếp than. Nhưng nhiều nhà đã chuẩn bị củi luộc bánh từ trước. Nồi luộc bánh chưng các nhà thường đăng ký mượn lẫn của nhau. Đêm luộc bánh thường rất vui, trẻ em cũng háo hức chờ, nhưng chờ mãi chẳng được, chúng sẽ đi ngủ trước, thanh niên là đám phải trông nồi bánh, mỗi khi nước hơi cạn phải chêm thêm nước sôi vào, nhưng sau nhiều ván bài chúng cũng gật gù hết, chỉ còn các bà, các mẹ những người không phải lĩnh nhiệm vụ trông nồi bánh chưng nhưng tất việc trông cho không cạn nước, hấy bánh đều do các bà, các mẹ làm. Chỉ sáng ra, bánh đã đủ rền, đám thanh niên mới được huy động rửa bánh, rồi ép bánh cho chắc.
Bánh chưng như hồn cốt Tết Việt. Những ngày xa ấy, cứ phải chờ đến Tết mới có miếng bánh chưng, nên bánh chưng càng trở nên thiêng liêng. Mỗi người con Việt, dù đi xa ở đâu trên thế giới, Tết về vẫn mong miếng bánh chưng. Nhiều người Việt ở nước ngoài khi Tết đến vẫn cùng nhau gói bánh. Đại sứ quán Việt Nam ở các nước trong lễ mừng năm mới cũng có bánh chưng.
Vậy nhưng hình như bánh chưng không còn vị trí thiêng liêng nữa. Bây giờ chợ nào cũng bán bánh chưng hàng ngày. Nhiều trẻ em bố mẹ cho ăn sáng bằng bánh chưng rán trước cổng trường đến phát ngấy. Chẳng mấy nhà còn được hưởng thú vui gói bánh và ngồi trông nồi bánh chưng trong đêm giá lạnh, vừa hơ tay cho ấm, vừa vùi nướng củ sắn, củ khoai.
Nhà tôi cũng lâu lắm rồi không gói bánh chưng, dù ngày trước chồng tôi gói bánh đẹp nhất vùng. Tết đến, bùi ngùi nhớ lại cảnh xưa, chuyện muôn năm cũ rồi. Cả nhà đang cùng rủ nhau, năm nào rảnh rỗi lại gói bánh chưng, năm nay không kịp rồi, thời gian thoi đưa, hẹn Tết khác vậy.








