Tầng sâu thẳm văn hoá Hà Nội
Nhưng đó là văn hoá vật thể, có nghĩa sờ mó được, còn văn hoá phi vật thể, nó có nhưng vừa hữu hình, vừa vô hình, vừa hiện ra bằng hiện vật, vừa bảng lảng trong tâm hồn con người, không gì đong đếm hay lấy tiền bạc ra mà nói được, đó là tầng sâu văn hoá Hà Nội suốt chiều dài hơn nghìn mùa xuân chắt lọc, nâng niu, gìn giữ và phát triển để cho chúng ta được hưởng.
Có người hỏi vậy tầng sâu văn hoá đó là gì? Thật khó trả lời gọn trong ít lời trên giấy về một vấn đề vô cùng to lớn, nhiều người đã tranh luận và nhiều người còn tranh luận nữa mà chưa thể ngã ngũ như hai với hai là bốn, mà có khi hai với hai là sáu, là tám, là mười, là vô tận...
Có thể nhìn thật rõ con rồng vàng đang bay lên trên bầu trời Hà Nội được không hay có thể gặp một thày giáo ngàn đời vạn thế sư biểu Chu Văn An trong đời thường của ngày hôm nay được không như là ta đi chợ hoa, ta có một cành đào phai thanh khiết, ta có cành mai vàng rực rỡ, ta có tấm bằng chứng chỉ học vị treo trên tường, lồng trong khung kính? Chắc khó mà làm được, vậy thì tầng sâu văn hoá chính là lòng ra, đời ta, thế hệ ta, lời ta đang nói, miếng ta đang ăn, đường ta đang đi, mùa xuân ta đang hào hứng những điều ta học được ở nghìn năm...
Hình như có một qui luật: Hà Nội là nơi hội tụ tinh hoa của toàn đất nước, nơi gặp gỡ của nhiều tài năng, nơi hun đúc chí khí, lòng dũng cảm và sức sáng tạo, nói theo kiểu công thức là Địa Linh để sinh ra Nhân Kiệt.
Có biết bao nhiêu con người sinh ra ở mọi miền đất nước nhưng mới chỉ là cái mầm xanh nhỏ bé. Phải về với Thăng Long- Hà Nội, cái mầm ấy mới có đủ điều kiện để tốt tươi gốc cành, đơm hoa thơm trái ngọt, để lại cho đời những mùa vàng lấp lánh suốt thời gian...
Nhà Lý xuất phát từ hương Cổ Pháp phải về Thăng Long mất nửa ngày đường, rồi ra đi từ nơi Hoa Lư chật hẹp, phải có Thăng Long mới có một nhà Lý dài lâu mấy trăm năm, có người anh hùng bình Chiêm đánh Tống, có người con gái hái dâu mà cầm quyền nổi cơ đồ là cô gái Ỷ Lan, là bà Nguyên phi, bà Thái Hậu.
Nhà Trần xuất phát từ Sơn Nam , vùng nhiều sông ngòi nên họ Trần làm nghề đánh cá. Phải trở thành dân Thăng Long mới vẻ vang ba lần đánh thắng quân Nguyên, khi quân Nguyên đã thôn tính nửa trái đất. Và sản sinh ra những con người bất tử của Thăng Long, của Đại Việt: Trần Nhân Tông, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, nhất là Trần Quốc Tuấn... Ông hào trưởng xứ Thanh Hoa (sau đổi thành Thanh Hoá) Lê Lợi, nếu không làm vua trên đất Đông Kinh, Đông Quan mở ra triều đại nhà Lê cũng hơn hai thế kỷ, thì sẽ ra sao? Sự nghiệp lẫy lừng của ông vua khai sáng một triều đại này luôn có huyền thoại Trả gươm cho rùa thần mà nay con hồ này đã nổi danh trên thế giới, không một du khách nước ngoài nào đến Việt Nam lại không một lần ghé thăm Hồ Gươm...
Đó là các triều đại vua chúa, còn người bình thường thì sao? Bà Nguyễn Thị Lộ ở Thái Bình, đi bán chiếu mà trở thành Lễ Nghi Học Sĩ, chết một cách thảm thương nhưng đời đời vẫn lưu danh là một con người ở Tây Hồ khi bà bỡn cợt: Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon...
Hải Thượng Lãn ông, quê nội Hải Dương, quê ngoại Hà Tĩnh, nhưng cuốn Ký sự lên Kinh còn cho ta thấy có một Thăng Long ra sao, và ông xứng đáng là một người Hà Nội với tấm lòng yêu Hà Nội đến thế, Hà Nội đã cho ông một tầng sâu tâm hồn như thế.
Nguyễn Du là người Hà Tĩnh theo quê cha, hay là người Hà Nội theo nơi sinh? Ngày nay khai lý lịch thường phải khai nơi quê gốc, rồi nơi sinh, rồi nơi ở hiện tại... Cũng là tương đối thôi.
Thạch Lam (và Nhất Linh) quê gốc là Quảng Nam, nơi sinh là Cẩm Giàng (Hải Dương) nhưng một đời ông sống cùng Hà Nội, cả đến khi lìa đời, ông chọn bờ hồ Tây, cái Ao Vả của làng Yên Phụ mà ra đi, Hà Nội là cả đời Thạch Lam. Thạch Lam cũng là Hà Nội khi tâm hồn tế nhị ấy, con người tài hoa mà dung dị, nhân hậu mà bao dung, chân thành mà tha thiết ấy đã để lại cho đời những Băm sáu phố phường, những Sợi tóc, những hình ảnh bát bún ốc dàn dụa nước mắt, những cô gái khốn khổ không có nổi một giao thừa yên ổn...
Tầng sâu văn hoá chính là tâm hồn những con người, gốc Hà Nội như Vũ Tông Phan có trường học Hồ Đình cạnh hồ Gươm (nay là toà báo Nhân Dân), có Phương Đình Nguyễn Văn Siêu là Thần Siêu sánh cùng Thánh Quát, Cao Bá Quát người hương Thổ Lỗi (tức Phú Thị) nay cũng là ngoại thành. Những con người được Thăng Long Hà Nội hun đúc thế nào và bằng gì? Hẳn không phải ai cũng hằng ngày nhiều sơn hào hải vị hay yến tiệc linh đình. Những quyển vở bằng giấy bản mua nơi Hàng Giấy, Hàng Bút, bát cơm thơm dẻo ngọt bùi được ngọn lửa Hà Nội cho chín tới như bông, ngọn rau húng làng Láng, cây cải Đông Dư, con ốc Hồ Tây, cá rô Đầm Sét, những mùa đông trắng muốt hoa mai, những dinh đào nở bừng một trời huyền thoại... tất cả đã nuôi con tim họ, bộ não họ và thân hình trai tráng lực lưỡng hay dài lưng của họ...
Lạ một điều, đất nước ta có không biết bao nhiêu sản phẩm quí giá gọi là của ngon vật lạ. Những thứ này trước hết tiến vua, tiếp theo ngay là tiến cho Hà Nội, từ con chim sâm cầm đến hạt cốm Vòng, từ quả vải Thanh Hà đến con cá anh vũ Việt Trì, từ nải chuối ngự Nam Định đến thứ lụa mềm Trúc Bạch ven hồ Tây hay giấy lệnh làng Hồ, làng Bưởi... Hà Nội phải cảm ơn trăm vùng quê nội quê ngoại, cảm ơn những mảng văn hoá to nhỏ đã tạo thành mảng hay nền văn hoá Thăng Long. Có một nền văn hoá Thăng Long luôn ẩn hiện, luôn có mặt, luôn thấp thoáng, luôn sống động, chẳng khác nào tuổi mỗi con người, nó lặn nhưng nó nổi, ta nhớ từng giây phút nhưng ta lặng nó vào tiềm thức...
Văn hoá khó có định nghĩa nào trọn vẹn thì nền sâu, tầng sâu văn hoá Thăng Long cũng là như thế. Nguyễn Trãi với Lương Đăng tranh luận về nhã nhạc cung đình, hẳn sau này cũng là một trong nhiều nguyên cớ để kẻ thù hãm hại ông. Văn hoá ấy cũng là câu của Trần Hưng Đạo “Thư dãn sức dân”, của Nguyễn Trãi “Dân như nước, có thể nâng thuyền mà cũng có thể lật thuyền”... và văn hoá ấy còn là 60 ngày khói lửa ngút trời, làm câu nói xưa kia “Thăng Long phi chiến địa” không còn đúng và tiếp theo sẽ còn là 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, con rồng lửa vút lên làm nức lòng toàn thế giới.
Tại sao Đài Tiếng nói Việt Namvà Đài Truyền hình Việt Nam lại lấy tiếng Hà Nội làm chuẩn? Cả nước đã nói tiếng phổ thông, mỗi nơi có thổ ngữ, giọng điệu, thói quen của riêng mình, không nơi nào xấu cả, không nơi nào đáng chê đáng trách cả, nhưng hình như tiếng Hà Nội là tiếng Việt nghìn năm đã được hiện đại hoá, cập nhật cho đến ngày hôm nay.
Có biết bao nhiêu phong tục tập quán của trăm vùng, của gần 60 dân tộc... nhưng khi qua Hà Nội, nó đều được gạn lọc, được phát huy cái hay, bỏ đi điều chưa đẹp... chính là tình người, lòng vị tha, nói như nhà văn Vũ Bằng, đó là “Miếng ngon Hà Nội: chia nhau một miếng, tặng nhau một lời, giúp nhau đốm lửa, chào nhau vào xuân...” Vẫn là Việt Nam thôi, nhưng hình như có một điều gì đó là Sắc thái Hà Nội nó từ máu thịt đi ra, từ tâm não đi ra, không cần phải làm duyên làm phách, không cần tô điểm bề ngoài, không cần đóng kịch.
Có ai mà không công nhận rằng phở Hà Nội hiện nay là ngon nhất, chắc chắn ngon hơn phở bánh khô của Thái Nguyên, phở lợn Cao Bằng, phở chua Lạng Sơn, phở giá sống của phương Nam, dù có người bảo quê hương phở là Nam Định. Trong một món quà đơn sơ mà kỳ lạ thế thôi, ta cũng thấy có một cái gì đó gọi là Hồn Hà Nội khác hẳn nhiều nơi. Từ 1945, Hà Nội được lấy làm Thủ đô một nước Việt Nam mới. Nó được toạ lạc trên một nền tảng nghìn năm huy hoàng vẻ vang, vừa hào hoa vừa anh dũng, vừa trí tuệ vừa bình dân...
Nói Hà Nội là nơi có tầng sâu văn hoá là có lý. Tuy nhiên nếu chỉ có một Hà Nội cô đơn, thì Hà Nội cũng sẽ chỉ là một làng quê, một thị trấn nghèo nàn. Chính có Hà Nội vì có trăm phương, có người Hà Nội hào hoa thanh lịch vì có triệu người các nơi đóng góp công lao cho Hà Nội.
Hà Nội trường tồn và phát triển bởi nó là một phần máu thịt Việt Nam .








