Tăng năng suất bò sữa cao sản
Kinh nghiệm “tổng kết 30 năm nuôi bò sữa cao sản” của Cu Ba, “20 năm nhập bò sữa cao sản” của Angerie - những nước nhiệt đới và á nhiệt đới như nước ta - mà chúng ta đã từng tiếp xúc học hỏi vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX cũng như kinh nghiệm bản thân chúng ta đã chuyển bò sữa cao sản từ Ba Vì (Hà Tây) về Sơn La, Lâm Đồng để bò “dễ thích nghi” và “nuôi tốt hơn”, chứng tỏ rằng, tăng năng suất bò sữa cao sản là một quá trình gay go, gian khổ. Hiện nay theo tin tức báo chí, nhiều dự án nhập nuôi bò sữa sao sản ở nước ta đang lâm vào tính trạng khó khăn (báo Nông nghiệp Việt Nam số 174 ngày 31/8/2006; báo Lao động số 27 ngày 18/9/2006...).
Rõ ràng thành công hay thất bại của bất cứ một dự án nào đều do nhiều yếu tố tạo nên và thái độ đúng đắn, bình tĩnh nhất trước tình hình là “dũng cảm phát hiện”, “sai đâu sửa đấy”.
Tuy nhiên cần chú ý rằng lượng sữa/chu kỳ (năng suất) là một tính trạng sinh học rất nhạy cảm (sensible), thường mang tính trạng trội di truyền (dominant) ở con đực bố; cao hay thấy do còn có tương quan với đặc tính của chúng (Bos primigenius hay Bos indicus); thường có hệ số di truyền tương đối thấp (h 2= 0,30), cũng có nghĩa là chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố tạo nên do:
- Thiên nhiên và người nuôi (như khí hậu, thời tiết, vi khí hậu, chọn phối, nuôi dưỡng, chăm sóc...).
- Biến đổi của quy luật sinh trưởng của bản thân con vật (trao đổi năng lượng, trao đổi chất, miễn kháng, tập tính...).
Từ đó nên có quan niệm “Phải ứng dụng quy trình công nghệ hiện đại” vào việc nuôi bò sữa cao sản tập trung. Trong thực tế nhiều cơ sở nuôi bò sữa tập trung lớn, nhất là ở miền Nam đã bắt đầu ứng dụng công nghệ hiện đại. Cơ sở Mộc Châu (Sơn La), đến nay đã có những đàn sinh trưởng từ gốc ban đầu 324 lên 670 con với lượng sữa đạt 4700 - 4800 l/chu kỳ (báo Nông nghiệp Việt Nam số 174 ngày 31/8/2006).
Tuy nhiên lượng sữa/chu kỳ của đàn bò sữa nhập của chúng ta đang ở mức thấp nhất, trong lúc mặt bằng lượng sữa/chu kỳ trên thế giới đã ngang 6000 l/chu kỳ; ở một số đàn cao sản hơn - nhất là ở Bắc Mỹ và châu Âu - đã ngang mức 8000 l/chu kỳ với những con kỷ lục 12.000 - 13.000 l/chu kỳ (tư liệu của FAO, 2000). Đó cũng là một kỳ tích sinh học về nuôi bò sữa cao sản trên thế giới mở đầu thế kỷ XXI.
Mô hình “quy trình công nghệ hiện đại” ứng dụng hiện nay trên thế giới nằm trong khuôn viên của các vấn đề chủ chốt sau đây (tóm tắt):
1. Tổ chức quản lý sản xuất, chú trọng cơ giới hoá, hiện đại hoá, hoàn chính các khâu từ nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ vật nuôi (và người nuôi) đến duy trì tự động hoá điều chỉnh tiểu khí hậu theo thời tiết; cơ giới hoá và hoá học hoá bảo vệ môi trường bảo vệ vệ sinh an toàn từ vắt sữa đến pha chế, chế biến, bảo quản, lưu thông...
2. Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại; tạo dòng chuẩn, dòng thương phẩm (về lượng sữa) để có những cá thể có lượng sữa/chu kỳ cao và ổn định; đánh giá giá trị giống (EBV) của các con đực và con cái dùng để phối giống trong các dòng thuần, chú trọng dòng đực.
Ứng dụng một phần mềm máy vi tính (có thể là một phần của Bovblup) theo dõi lượng sữa ra từng bầu vú của con cái, tổng quát lên thành lượng sữa/theo mức loại, lượng sữa/chu kỳ, lượng sữa/ngày, lượng sữa/tháng, lượng sữa/năm... để biết được tiến bộ di truyền (hay không) nhằm xử lý các khâu nuôi dưỡng và phối giống....
3. Chế biến bảo quản lưu thông sản phẩm; sữa tươi là thuộc loại mặt hàng: “sớm tươi, trưa thối, tối đổ” vì vậy phải bảo quản vệ sinh an toàn khi vắt sữa đến đóng bao, đóng gói và bảo quản. Phải triển khai và xác định chất lượng sữa; phải ở mức tiêu chuẩn: tỷ lệ vi khuẩm cho phép, mỡ sữa 3,5% trở lên, vật chất khô không dưới 12%.
4. Giá thành sản phẩm, giá thành sản phẩm đương nhiên phải cân bằng với giá thu mua, tiêu dùng thì năng suất cao mới có lợi nhuận.
“Tăng năng suất boà sữa cao sản” là một yếu tố quan trọng trong lợi nhuận của việc nuôi bò sữa cao săn tập trung, đồng thời là một đòn bẩy để cạnh tranh vì không có năng suất cao thì làm sao đáp ứng được nhu cầu về sữa ngày càng nâng cao và cạnh tranh được với việc nhập sữa bột cũng có nhu cầu ngày càng cao?
Nguồn: T/c Chăn nuôi, 11 – 2006, tr 58.








