Tầm nhìn và quy hoạch với Thủ đô ngàn năm tuổi
Chiếu dời từ Hoa Lư ra Thăng Long (trung tâm Châu thổ hệ thống sông Hồng - Thái Bình trù phú) của vua Lý Thái Tổ đối với dân tộc ta quả là có tầm nhìn xuyên thiên niên kỷ . Vào thời đó, khi di đô vua Lý Thái Tổ chưa thể có một bản quy hoạch rõ ràng về xây dựng đế đô mới. Nhà vua chỉ có thể dựa vào lòng dân, thế nước ở thời đại, địa lợi, nhân hòa mà ra quyết định. Ngài cũng chỉ có thể thuyết phục triều đình và dân chúng rằng: Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hướng núi sông sau trước. Vùng đất này mặt trước rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ trấp trũng tối tăm, muôn vạn hết sức tươi tốt phồn vinh. Xem khắp nước Việt ta đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
(tháng bẩy mùa thu năm Canh Tuất 1010)
Nay, Thăng Long - Hà Nội đã được Quốc hội ra nghị quyết mở rộng gấp hơn 3 lần về diện tích, gần gấp 2 lần về dân số. Trước đó đã xuất hiện một qui hoạch cơ bản phát triển khu vực sông Hồng, đoạn qua Hà Nội cũ, nhưng nay đã trở nên bất cập. Trước hết vì trị thủy sông Hồng một cách cục bộ đoạn qua Hà Nội chưa thấu lý. Di một lượng dân hàng chục vạn người mà chưa có kế hoạch thật cụ thể, chi tiết. Còn về mặt bằng diện tích đất đai cần cho xây dựng mới, khi Hà Nội được mở rộng ra cả tỉnh Hà Tây cũ thì không còn là yếu tố bức xúc nữa.
Với phương pháp tiếp cận hệ thống, để xây dựng một Thủ đô xứng tầm, cần một tầm nhìn chiến lược như ông cha ta thủ trước, tiếp tới là xây dựng một qui hoạch cụ thể theo phương pháp hiện đại.
Đầu tiên phải nhìn thẳng vào những khó khăn hiện tại, rồi mới xét đến thời cơ và thuận lợi, vạch ra được một lộ trình hợp lý.
Về thực trạng nước hiện vẫn đang còn là một nước nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa nước, nông dân chiếm tới trên 60% dân số. Chiến tranh tuy đã qua, nhưng di hại của nó vẫn còn dai dẳng và nặng nề. Số người chịu di chứng chất độc da cam trên bốn triệu, số người tàn tật cũng tương đương. Tai nạn giao thông và tệ nạn xã hội hàng năm tiếp tục tăng, tạo gánh nặng cho nền kinh tế quốc dân. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhưng chưa đồng bộ, nên không thể đáp ứng được tốc độ hiện đại hóa nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế tuy đáng tự hào, nhưng vẫn chưa thể tạo đủ việc làm cho số lao động tăng nhanh và trẻ hóa. Khoảng cách giàu nghèo lại đang gia tăng. Chiến lược tam nông vẫn còn lúng túng. Có bài báo đánh giá là “Nông nghiệp bấp bênh, nông dân thiệt thòi, nông thôn lạc hậu, vậy là tam nông vẫn còn tứ khó”.
Về mặt xã hội, thế giới loài người vẫn đang xuất hiện những mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, hệ tư tưởng ngày càng phức tạp. Nạn khủng bố và chiến tranh cục bộ vẫn thường xảy ra, làm mất ổn định các mối quan hệ quốc tế. Các thế lực hùng mạnh, đôi khi vẫn còn dành quyền “dạy một bài học” cho các thế lực yếu hơn.
Về mặt yếu hơn, tình trạng khí hậu toàn cầu đang nóng lên, băng tan ở hai cực đã được khẳng định bằng các quan sát khoa học từ vệ tinh. Hậu quả là trong vài chục năm tới bão lũ, hạn hán sẽ khốc liệt hơn. Nước biển dâng sẽ kéo theo xâm nhập mặn sâu, thoát lũ khó khăn. Nước ngọt dùng cho sinh hoạt và sản xuất có thể trở nên kham hiếm. Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập làm mất diện tích đất ở và canh tác gây ảnh hưởng lớn tới cuộc sống của hàng chục triệu dân chúng nước ta.
Muốn xây dựng và phát triển nhanh mạnh, chuyển đất nước ta từ nông nghiệp lạc hậu sang công nông nghiệp hiện đại, không thể tránh khỏi quá trình đô thị hóa, trong đó có quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô, vì đó là quy luật tất yếu.
Vậy là rất cần đến vốn. Cách đây hai trăm năm trong quá trình công nghiệp hóa, các nước tư bản phát triển đều tích lũy vốn từ nông nghiệp và sức dân đó là chưa kể họ vơ vét tài nguyên từ các thuộc địa. Nay trong thời đại nền kinh tế tri thức phát triển và bùng nổ họ còn biết tận dụng những ý tưởng táo bạo về quản lý, khôn khéo ứng dụng các phát minh khoa học kỹ thuật của cả nhân loại để nhanh chóng gia tăng gái trị thặng dư lao động. Với quá trình hội nhập toàn cầu, thiếu vốn có thể đi vay. Nhưng sự đời có vay tất phải có trả. Muốn vậy ta phải có tầm nhìn và cách cư xử hợp lý tài nguyên vốn có và đẩy nhanh năng suất lao động xã hội, tạo ra sự phát triển nhanh mà bền vững. Điều đó có nghĩa là phải bắp kịp đà tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại, và có quá trình vừa sử dụng hợp lý vừa đào tạo, nâng cấp sức lao động trẻ và dồi dào.
Phải chăng lịch sử phát triển theo mô hình xoáy trốn ốc mở rộng và người ta không thể có hai lần tắm ở cùng một dòng sông. Các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa phải chăng đang quay trở lại với thủ đô ngàn năm văn vật, nhưng tình thế nay đã khác xa.
Thiên thời là đất nước hoàn toàn thống nhất, tình hình chính trị xã hội khá ổn định, khát vọng xóa đói, giảm nghèo vươn lên giàu mạnh, công bằng văn minh của toàn dân khá rõ ràng.
Địa lợi là đất nước nằm trên vành đai Thái Bình Dương có bước phát triển kinh tế rất năng động, có đường bộ, tiến tới là đường sắt xuyên lục địa và có cả hành lang Đông Tây từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, đó là chưa kể đường không và vận tải viễn dương đang rất phát triển. Trước mặt là biển đông vùng trũng của Thái Bình Dương, rất giàu tài nguyên và giao thông biển thuận lợi. Động đất ít xảy ra, bão lớn đã có các quốc đảo bên ngoài che chắn bớt, ngoại trừ tai họa mực biển dâng cao. So với thời vua Lý, ngày nay dân tộc ta còn cả vựa lúa và thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long đảm bảo khá chắc chắn an ninh lương thực - thực phẩm. Quả là:
Sông Hồng đỏ phù sa vẫn chảy
Thăng Long lấp lánh vẻ rồng bay
Cửu Long rồng cuộn bao tiềm ẩn
Cả chục rồng bay cũng đến ngày.
Nhân hòa, là nay dân số nước ta đã gần gấp bốn lần thời cách mạng tháng Tám (25/86 triệu), gấp nhiều lần thời vua Lý và đang còn gia tăng. Mật độ dân số cao và xu hướng dô thị hóa tăng nhanh. Ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo khá sâu sắc. Tuy nhiên việc la tinh hóa thành công chữ viết cộng với viễn thông phát triển nhanh, mạnh, tạo cơ sở nhất quán về văn hóa tư tưởng dễ dàng.
Trên đây là những yếu tố thuận lợi mà không phải dân tộc nào và thời đại nào cũng có được. Để Thủ đô là của cả nước và cả nước vì Thủ đô, chúng ta cần lưu ý về quy hoạch sông Hồng. Trước hết hệ thống sông Hồng - Thái Bình gần như nằm gọn trên lãnh thổ nước ta. Trải qua hàng ngàn năm khai phá, dân ta đã hình thành hệ thống đê điều khá hoàn chỉnh. Tuy nhiên, thời kỳ hậu sông Đà và Thủy điện Sơn La đã làm chế độ dòng chảy phía hạ lưu có nhiều biến động. Ngoài ra, nước biển dâng cao sẽ là mối đe dọa lớn trong tương lai. Hệ thống đê điều ở đồng bằng Bắc bộ chiếm diện tích mặt bằng rất lớn về lâu dài vẫn phải duy trì. Một ý tưởng mới nảy sinh là liệu có thể từng bước sử dụng chúng như một mạch máu giao thông bộ, song song với giao thông thủy. Chuỗi đô thị ven sông sẽ dễ dàng hình thành và nối mạng với hệ thống đô thị trong cả nước. Để khôn tốn mặt bằng, với công nghệ tầng trùm lên trên khoảng không của mặt đê. Móng nhà ở hai bên đê, sâu xuống tầng địa chất ổn định. Đê chui bên dưới như đường giao thông. Vậy là sẽ không tốn mặt bằng, vẫn thoát lũ được, lại bảo đảm hộ đê dễ dàng. Những công trình xây dựng lớn và tập trung như vậy sẽ mau chóng trở thành trung tâm văn hóa, tài chính, dịch vụ du lịch, dân cư đông đúc vì giao thông thuận lợi, dễ dàng xây dựng ở gần khu đô thị đông dân hiện có. Dân chúng dễ chấp nhận chuyển đến định cư. Công trình thí điểm không đòi hỏi số vốn quá lớn và khi đã thành công có thể làm dần như vết dầu loang.
Người ta nói cái khó bó cái khôn. Người tự tin thì bảo cái khó nó ló cái khôn và sáng kiến bao giờ cũng là con đẻ của sự cần thiết. Trước vận hội của cả đất nước và dân tộc, cần lắm một tầm nhìn xa trông rộng và năng lực tập hợp được sự đồng tâm nhất trí vươn lên của cả cộng đồng. Cái gì đã tồn tại bởi vì nó hợp lý - cái hợp lý mới có thể tồn tại trong tương lai.








